VĂN HỌC NGA
- Ông lão đánh cá và con cá nhỏ - Lớp 6: Đây là tác phẩm bằng thơ được chuyển thể sang văn xuôi.
- Hai cây phong – Ai – ma – tốp ( Lớp 8 )
- Những đứa trẻ ( Lớp 9 )
Khái quát
I. Hoàn cảnh lịch sử
- Nước Nga TK XIX tồn tại chế độ Nông nô chuyên chế hình thành từ TK XVII qua 7 đời Nga Hoàng.
- Các giai tầng:
+ Địa chủ, quý tộc
+ Nông nô
+ Tư bản
+ Công nhân
+ Tư sản
+ Tiểu tư sản
ð Do phát triển chậm hơn các nước châu âu => Sự phát triển chậm văn học
- Giai cấp tư sản: bạc nhược thỏa hiệp với quý tộc để bóc lột nhân dân.
- Giai cấp công nhân: Hình thành và phát triển từ giữa TK đến cuối TK trở thành một lực lượng chính trị độc lập là nhân tố lãnh đạo phong trào cách mạng
- Nhân dân lao động: Chiếm khoảng 90% dân số chịu áp bức của địa chủ quý tộc
* Phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân
- Diễn ra không ngừng trong suốt TK đây là đặc điểm nổi bật làm nên diện mạo của nước Nga TK XIX là chiếc nôi ra đời của văn học, là nguồn sữa tinh thần của văn học.
+ Cuộc chiến tranh vệ quốc 1812: Trở thành đề tài cho nhiều tác giả Puskin, Leptonxtoi. Cuộc chiến tranh này quân Nga chống lại.
- Chiến thắng năm 1812 là một trang anh hùng trong lịch sử Nga là bản anh hùng ca vĩ đại của nhân dân Nga. Qua cuộc chiến tranh này nhân dân Nga đã thức tỉnh vai trò và sức mạnh của mình. Chiến thắng này cũng trở thành đề tài sáng tác cho nhiều nhà văn nhà thơ.
- Cuộc khởi nghĩa tháng chạp 1825 ( Tháng 12/1825 ). Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng tư tưởng chống chế độ nông nô chuyên chế của các chiến sĩ tháng chạp trở thành tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại góp phần to lớn trong việc ‘‘thức tỉnh ý thức nhân dân’’
* Cuộc cải cách nông nô 1861. Thực chất đây là một cuộc cải cách nửa vời. bịt bợm vì đời sống nhân dân Nga sau cải cách vẫn rất cơ cực, họ được tự do về thân thể nhưng thân phận vẫn không thay đổi, ruộng đất phần lớn vẫn rơi vào tay địa chủ quý tộc, nông dân bất mãn nổi dậy khắp nơi, chính quyền chuyên chế ra sức đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng.
* Phong trào đấu tranh giải phóng của GCCN, lớn mạnh từ giữa TK đến cuối TK trở thành một lực lượng chính trị độc lập chuyển từ đấu tranh tự phát sang tự giác.
2. Nước Nga TK XX
* Cuộc CM DCTS lần thứ nhất ( 1905 – 1907 )
- Ngày 9/1/1905 có 105.000 người gồm nhiều tầng lớp tham gia đấu tranh do giai cấp công nhân lãnh đạo và bị dìm trong biển máu ( Ngày chủ nhật đẫm máu )
- Phong trào công nhân lúc này chưa đủ mạnh, chưa có sự đoàn kết.
- Phần lớn người tham gia là nông dân, tính tự giác chưa cao chủ yếu là tự phát.
* Cuộc CM T10 Nga 1917.
* Chiến tranh thế giới thứ 2
II. Sự phát triển của văn học Nga
1. VH TK XIX
- Là ‘hiện tượng kỳ diệu của văn học nhân loại’’ – gorki, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây thì gọi là phép lặng
+ VH Nga TK XIX có tốc độ phát triển phi thường, từ TK X – XVIII các nhà văn Nga chỉ là những ngôi sao thưa thớt, số lượng tác phẩm không nhiều, phạm vi ảnh hưởng không lớn nhưng sang TK 19 trong vòng chưa đầy một trăn năm từ một nền văn học còn lu mờ chưa được biết đến ở Châu Âu VH Nga đã vươn mình trỗi dậy phát triển, chưa bao giờ và chưa ở đâu trên thế giới lại xuất hiện một đội ngũ những thiên tài hùng mạnh như VH Nga TK 19, các nhà văn tụ hội như một quầng sao rực rỡ.( Puskin, Lecmontop, Doxtoiepxki, tonxtoi …)
+ VH Nga TK 19 ra đời từ cái nôi của phong trào đấu tranh giải phóng nên nó gắn bó mật thiết với số phận của nhân dân với đời sống và sự vận động tiến lên của Xã hội, con đường tất yếu cảu các nhà văn nga là trở về với nhân dân.
+ Đây là nền văn học có tính chiến đấu cao, các nhà văn nga làm nhiệm vụ thức tỉnh nhân dân đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do dân chủ, họ là những người chiến sĩ kiên cường đấu tranh chống chế độ nông nô chuyên chế, chống khuynh hướng văn học đi ngược lại nhân dân.
+ Đây là một nền văn học mang vẻ đẹp của những tư tưởng cao cả tiên tiến nhất cảu nhân loại ( Tư tưởng yêu nước, tự do, dân chủ, giàu tính nhân văn luôn hướng đến cái thiện, cái đẹp).
III. Sự hình thành phát triển của các trào lưu khuynh hướng và phương pháp sáng tác.
- 1. Chủ nghĩa cổ điển
- Ra đời ở TK XVIII sau chủ nghĩa cổ điển Pháp 100 năm
- Có nhiều điểm tương đồng với chủ nghĩa cổ điển Pháp
+ Cùng đề cao tính chính trị, công dân
+ Nghệ thuật: anh hùng ca, hài kịch, bi kịch
+ Người nghệ sĩ phải sáng tác theo những khuân mẫu và nguyên tắc nhất định
VD: V.trêdiacopxki, G.decgiavin
ð Sáng tác theo khuôn mẫu, nguyên tắc giảm tính sáng tạo
- Sang TK 19 trước những đòi hỏi phức tạp của cuộc sống chủ nghĩa cổ điển Nga bộc lộ những hạn chế và không đáp ứng được đòi hỏi hiện tại đi đến kết thúc nhưng những gì tốt đẹp của nó được kế thừa và phát triển trong sáng tác của Puskin và những nhà thơ tháng chạp.
- 2. Chủ nghĩa tình cảm
- Văn học quan tâm đến tình cảm cá nhân con người
- Chủ nghĩa này hình thành cuối TK XVIII là bước tiến của văn học
- Phản ánh tình trạng khủng hoảng trong ý thức của gia cấp quý tộc Nga, đồng thời chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa tình cảm của Anh, Đức
- Đặc trưng Chủ nghĩa tình cảm Nga là quan tâm đến cảm xúc trong đời sống nội tâm con người, các nhà văn ưa thích miêu tả những con người bình thường, giản dị, họ ưa chuộng miêu tả tình cảm hơn ý chí, đặc biệt là miêu tả thiên nhiên coi thiên nhiên là phương tiện diễn đạt tư tưởng tình cảm.
VD: Nicolai Caramdin ‘‘ Cô li da đáng thương’’ – Nhân vật chính là Li da ( tên người con gái rất bình thương ). Tác phẩm giống như ‘‘Hồn bướm mơ tiên’’. Cô gái sống ở quê cùng mẹ già bằng nghề trồng hoa, cô mang hoa ra thành phố bán và gặp một anh chàng có tâm trạng chán cuộc sống nhàn tẻ, sung sướng nhưng anh không thay đổi được và anh quyết định làm quen với một cô gái thôn quê, rồi họ gặp nhau và yêu nhau, sau đó viết thư cho nhau vào những lúc xa cách. Bẵng đi một thời gian không liên lạc, cô gái lên thành phố tìm người yêu và biết anh đính hôn với một bà cụ giàu có, cô gái trở về quê và gieo mình xuống sông tự tử.
ð Chính vì chú ý đến tình cảm cá nhân mà dẫn đến hạn chế là không chú ý đến hiện thực cuộc sống cùng những xung đột, mâu thuẫn giai cấp( Sự ngăn cách giữa xuất thân của hai nhân vật ).
- 3. Chủ nghĩa lãng mạn
- CNLM Nga gắn liền với cái tên người sáng lập ra nó là Giucopxki
- CNLM Nga bao trùm giai đoạn nửa đầu TK 19 và tiếp thu nhiều ảnh hưởng của các khuynh hướng lãng mạn khác nhau trong văn học châu Âu(Đức, Pháp, Anh )
Tuy nhiên sự hình thành và phát triển của CNLM Nga chủ yếu là do động lực chính của dân tộc bắt nguồn từ sự kiện cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại 1812 và khởi nghĩa tháng chạp 1825.
( Dòng lãng mạn tiêu cực - 1825 và tích cực từ - 1812 )
- CNLM Nga xuất hiện như một sự thay thế chủ nghĩa cổ điển nó đề cao tự do cá nhân trong sáng tạo mạnh dạn đưa ra những thể loại có tính chất tổng hợp ( Tiểu thuyết thơ ), nó cũng quan tâm đến cá nhân con người, chú ý đến thế giới nội tâm phong phú, đến những biểu hiện củ quan của người nghệ sĩ.
- 1820 trường ca Ruxlan và Liutmila đã đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của CNLM Nga.
- 4. Chủ nghĩa hiện thực
- Phản ánh khách quan chân thực cuộc sống
- Viết về nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình
- Thể loại tiêu biểu là tiểu thuyết ( Chiến tranh và hòa bình )
- CNHT trong văn học nga được khơi nguồn bắt dễ từ trong lòng TK XVIII nhưng trào lưu và phương pháp sáng tác chỉ thực sự hiện diện trong VH Nga TK 19 đánh dấu bằng tác phẩm Epghenhi Ônheghin
- Người có công đúc kết hệ thống lí luận của quan điểm của phương pháp sáng tác hiện thực ( Bielinxki – nhà lí luận văn học, nhà phê bình vĩ đại, nhà VH sử ). Người hoàn thiện những nguyên lí của CNHT mà Bielinxki đề ra đó là nhà mĩ tuật Secmisepxki.
* Sang TK XX
- Phương pháp sáng tác CNHT xã hội chủ nghĩa ( M.Gorki )
A. X. Puskin
I. Mặt trời của nền thi ca Nga
1. Vị trí của Puskin trong VH nga
- Puskin có một vị trí đặ biệt
+ Nhận xét của Gô gôn ‘‘ Puskin là một hiện tượng đặc biệt và có thể là duy nhất của tinh thần nga. Đó là người Nga trong sự phát triển của mình trong thực trạng mà anh ta chỉ có thể xuất hiện sau hai trăm năm nữa.’’
=> Puskin vừa là đặc biệt vừa là duy nhất trong VH nga. Puskin tien tri sự xuất hiện của mình trước thời đại 200 năm.
+ Đôxtôiepxki ‘‘Puskin là một hiện tượng có tính tiên tri’’
+ Biêlinxki: ‘‘Sáng tác của Puskin là đại dương mênh mông tiếp nước của trăm sông ngàn suối, viết về Puskin là viết về cả nền văn học nga vì Puskin tiếp thu, tiếp nhận toàn bộ ngồn sữa phong phú, di sản đồ sộ của VH nga nhất là thơ ca Nga để xây dựng một nền VH dân tộc có tính độc đáo.’’
2. Tiểu sử
- Đọc giáo trình
- Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc nhưng đã sa sút.
- Ông cụ ngoại 5 đời của Puskin là người da đen được Piot đại đế mang về và cho học hành => Puskin có nét giống người da đen.
- Tuổi thơ của Puskin trôi đi êm đềm trong tổ ấm quý tộc, dưới khoảng trời VH của gia đình, các bậc ch chú của Puskin đều là những người yêu thích và say mê VH họ thường tổ chức những buổi sinh hoạt đàm đạo văn chương tại gia đình, ngay từ nhỏ Puskin đã có cở hội tiếp xúc với các nhà văn nhà thơ lớn đương thời.
- Thời kì học ở Lixê ( 1811 – 1817 ): Ông nhanh chóng dành vinh quang thơ ca, ông đạt giải nhất trong cuộc thi thơ với bài thơ ‘‘Hồi ức ở Hoàng thôn’’, thời gian này ông cũng có cơ hội được tiếp xúc với các bậc thầy và bạn học có tư tưởng tiến bộ.
- Thời kì ở Petecbua ( 1817 – 1820 )
+ Năm 1817 ông tốt nghiệp và được bổ nhiệm về làm việc ở bộ ngoại gia Betecbua nhưng lúc này nơi đây là lò lửa của những cuộc đấu tranh chính trị, khởi nghĩa của nông dân lớn nhỏ nổ ra khắp nơi, Puskin quyết định không đi theo con đường gia đình lựa chọn cho mình, ông trở thành một nhà thơ, trở thành người nói lên nguyện vọng tâm tư của nhân dân nga, những bài thơ của ông trở thành vũ khí sắc nhọn đánh vào chế độ nông nô chuyên chế - chính quyền của nga hoàng.
- Thời kì đi đầy ở phương nam ( 1820 – 1824 )
THời kì này Puskin đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa lãng mạn bằng trường ca Ruslan và Lyudmila, cũng tại thời gian này ông bắt tay viết tiểu thuyết hiện thực đầu tiên của VH nga.
- Thời kì đi đầy ở phương Bắc ( 1824 - 1826):
Đây là quãng thời gia khó khăn nhất của ông, sáng tác của ông bị kiểm soát chặt chẽ, ông không được giao lưu với bạn bè và thế giới bên ngoài, người thân nhất với ông lúc này là bà nhũ mẫu, trong cuộc đời của nhà thơ bà nhũ mẫu có một vị trí đặc biệt. ( Ngay từ những năm ấu thơ nhũ mẫu đã được bà nhũ mẫu nuôi vì người quý tộc nga không nuôi con bằng sữa mẹ ), ông học tiếng nga qua người nhũ mẫu chứ không phải từ mẹ của mình.
- 10 năm cuối đời: Ông phải Trải qua nhiều cuộc đấu tranh, đời sống khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần. Năm 1830 ông kết hôn với người phụ nữ Natalia – rất xinh đẹp. Một cuộc hôn nhân trai tài gái sắc, cũng trong cuộc hôn nhân này ông sáng tác một bài thơ ‘‘ Điểm gở’’ xuất phát từ sự kiện cha sứ làm rơi cuốn sách và ngọn nến vụt tắt. Ông qua đời vì một trận đấu súng với một người sĩ quan, người sĩ quan ấy tán tỉnh vợ của Puskin, và vì sĩ diện nên ông đấu súng với người sĩ quan, có người cho rằng người sĩ quan ấy là do nga hoàng cử đến, và không đơn giản là chuyện của hai người đàn ông mà còn tài liệu cho rằng đó là chuyện giữa 2 quốc gia, trong cuộc đấu súng ấy ông bị bắn súng xuyên qua tim, cái chết của ông đã được tiên tri trước đó qua bài thơ ‘‘ Đài tưởng niệm’’
3. Sự nghiệp sáng tác
- Ông là một thiên tài đa dạng và để lại một sự nghiệp VH đồ sộ
+ Thơ trữ tình: Hơn 800 bài thơ
+ Tiểu thuyết – Thơ:
+ Trường ca: có hơn chục tác phẩm ( Người tù cáp ka, người thép đá, …)
+ Kịch: Có hơn chục tác phẩm ( Hiệp sĩ keo kiệt, … )
+ Tiểu thuyết lịch sử: Người con gái viên đại úy
+ Truyện ngắn: Tuyển tập truyện của ông Benkin.
+ Truyện cổ tích bằng thơ: Có 6 tác phẩm ( Ông lão đánh cá và con cá nhỏ, nàng công chúa chết và bảy tráng sĩ, … )
II. Thơ trữ tình
- Với sự xuất hiện của Puskin thơ ca nga không còn là thứ cây cứng từ châu Âu, nó trở thành thứ cây trồng bản địa.
- Ông được mệnh danh là ca sĩ tự do là người phát ngôn cho khát vọng tự do của nhân dân nga, thế kỉ ông sống là thế kỉ bạo tàn chính vì thế ông đã dùng những vần thơ của mình để nói lên khát vọng tự do mãnh liệt của nhân dân nga, ông trở thành người nói lên tiếng nói tự do cho nhân dân nga, chủ đề này có thể tìm thấy trong ‘ Tự do’’, ‘ Làng’’
‘‘ Ta sẽ được nhân dân yêu chuộng
Vì làn thơ ta gợi những tình cảm cao thượng
Vì trong thế kỉ bạo tàn ta đã ca ngợi tự do’’
- ‘‘ Tự do cho nhân dân và cuộc sống thanh bình sẽ là kẻ đứng canh muôn đời trên ngôi báu’’
- Bài thơ ‘‘ Tôi yêu em’’ là một trong nhưng bài thơ tình xuất sắc nhất của ông viết năm 1828. Đối tượng trữ tình trong bài thơ là con gái của vị chủ tịch viện hàn lâm nghệ thuật nga. Tuy cuộc tình này không thành nhưng hình bóng cô gái đã xuất hiện trong nhiều bài thơ tình của ông viết về cô. Mô tuyp tình yêu đơn phương trong thơ Puskin là rất tiêu biểu.
Tôi yêu em: đến nay, chừng có thể,
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa;
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.
Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng,
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen;
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.
III. Tiểu thuyết – Thơ: Epghênhi Ônhêghin
- Số lượng nhân vật ít ( có 4 nhân vật ) không đồ sộ như Chiến tranh và hòa bình.
- TP viết năm 1823 và hoàn thành 1831 theo lời tác giả đây là đứa con tinh thần yêu quý nhất của nhà thơ, TP gồm 5212 câu thơ được sắp xếp trong 356 khổ thơ, mỗi khổ gồm 14 câu thơ, Puskin gọi đó là khổ thơ Oonheghin ( Trừ 2 bức thư của tenhia và Oonheghin )
- Biveinxki gọi đây là một trường ca lịch sử: Lịch sử qua tâm hồn những con người, qua những con người độc giả có thể thấy được bước đi của lịch sử, còn Puskin cho rằng ‘‘tiểu thuyết là một thời đại được phản ánh trong một câu chuyện hư cấu’’, tuy không có nhân vật lịch sử nhưng epnheghin đã phản ánh lịch sử một cách sâu sắc. Ngay từ đầu TK 19 Puskin đã chỉ ra ưu thế của tiểu thuyết: Miêu tả lịch sử qua những số phận cá nhân, thông qua nhân vật chính tác giả đã tái hiện lại đặc điểm của tầng lớp thanh niên những năm 20 và cả nửa đầu TK XIX.
- Nhân vật trung tâm Epghenhi Ônhighen của tác phẩm ‘‘một thanh niên quý tộc kiểu mẫu’’. Anh có một cuộc sống nhàm chán muốn thay đổi nó, anh được thừa kế toàn bộ tài sản của bố mẹ nhưng do ăn chơi đã tiêu tán hết tài sản, vừa lúc đó nhận được tin ông bác ở quê qua đời và anh nhận được quyền thừa kế gia tài của bác, anh lên đường trở về quê vừa để thay đổi mình vừa để thừa kế ra tài. Tại đây Onheghin làm quên và kết thân với một thanh niên vừa du học ở Đức về, Lenxki là một nhà thơ lãng mạn tài năng và đang yêu say đắm onga – cô bạn cùng học thủa thiếu thời. Qua Lenxki và Onga Onheghi làm quen với Tachiana chị gái của Onga – Một cô tiểu thư lãng mạn sống nội tâm, thích đọc tiểu thuyết tình cảm lạng mạn ở châu Âu, Tachiana yêu Onheghin ngay từ lần gặp đầu tiên nàng chủ động viết thư tỏ tình cho Onheghin nhưng Onheghin từ chối tình cảm ấy khiến cho nàng rất buồn. Do một sự hiểu lầm Onheghin nhận lời thách đấu của Lenxki trong cuộc đấu súng Onheghin đã bắn chết người bạn của mình, sau cái chết của Lenxki Onga đi lấy chồng, Onheghin bỏ đi, Tachiana theo mẹ lên thành phố, tại đây nàng đã lấy chồng – Bá tước có danh tiếng trong triều đình, Onheghin sau 8 năm ngao du trở về gặp lại Tachiana và biết được cô là vợ của bạn mình, tình yêu trong Onheghin trỗi dậy, chàng viết thư tỏ tình với tachiana nhưng Tachiana từ chối tình cảm của Onheghin.
‘‘ Tôi yêu anh vẫn yêu như dạo nọ
Chẳng việc gì phải dấu nhưng nay tôi đã được gả chồng nhưng khác ý
Với chồng tôi tôi suốt đời chung thủy’’. Tác phẩm kết thúc Onheghin bỏ đi.
Onheghin ra khỏi nhà đến các phòng trà, nhà hát, gia đình quý tộc để tán chuyện và chờ đến tối để ăn tối, khiêu vũ cùng các cô gái, sau đó đánh bài khuya, ăn đêm rồi quyay về nhà lúc 4 giờ sáng, ngày nào cũng vậy lặp đi lặp lại => Sự nhàm chán, cuộc sống dựa trên sự bóc lột lao động, anh khác mọi người ở chỗ nhận ra cuộc sống phù phiếm của mình nhưng không biết làm gì để thay đổi cuộc sống cũng như số phận của mình.
+ Anh ta là người có đời sống nội tâm, anh nhận ra những nét đẹp trong con người Tachiana dù là chỉ qua lời kể của cô em cho thấy Onheghin cũng là một con người nhạy cảm nhưng đồng thời cũng cho thấy sự vô tâm và ích kỉ, khi nhận được thư chàng từ chối Tachiana vì yêu sự tự do hơn cuộc sống gia đình và nói: Nếu như người khác tôi sẽ nhận lời yêu cô rồi rời bỏ cô khiến cô đau khổ nhưng tôi không làm điều này, tôi yêu cô như tình yêu của một người anh trai. Sự ích kỉ con được thể hiện ở lời thách đấu của Lenxki, sau khi từ chối Tachiana thì Onheghin bỏ về chốn trong thư viện 3 tháng sau đó Lenxki đến rủ đi sinh nhật và nói trong buổi tiệc ấy chỉ có mời những người thân nhất, nhưng đến nơi thấy rất động người Onheghi nghĩ bạn chơi xỏ mình nên Onhenghi đã mời Onga khiêu vũ trước mặt Lenxki và dẫn đến việc đấu súng với Lenxki, cũng từ cuộc đấu súng ấy Onheghin nhận ra cái lỗi của mình song Onheghin lại không đi xin lỗi Lenxki vì chàng sợ dư luận cho rằng anh ta là một thằng hèn không dám nhận lời thách đấu sau đó dẫn đến cái chết của bạn. Onheghin là con người phức tạp đa chiều – Đó cũng là sự thành công của Puskin trong miêu tả nội tâm nhân vật.
- Hình ảnh Tachiana trong chương cuối chỉ ra bản chất Tachiana và bi kịch của Onheghin. Câu chuyện này không phải là hiện tượng cá biệt trong cuộc sống vì trong cuộc sống có nhiều trường hợp tương tự như vậy nhưng câu chuyên ca ngợi phẩm chất của Tachiana, trong cuộc sống có nhiều người con gái làm khác với cách nghĩ của Tachiana. Điều này càng làm cho tác phẩm trở nên hiện thực hơn. Tác phẩm này con 3 chương cuối nhưng bị nga hoàng kiểm duyệt và cắt bỏ nên tác phẩm có kết thúc mở khiến cho đọc giả có quyền bày tỏ ý kiến và quan điểm của mình. Qua nhân vật cho thấy Puskin rất quan tâm đến con người và thời đại của mình vì thời gian và hành động của nhân vật trong truyện tương ứng với cuộc đời nhà thơ. Puskin không xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa tháng chạp nhưng nhân vật trong truyện có tham gia cuộc khởi nghĩa nêu như vậy thì Onheghin sẽ bị đi đầy. Nếu tác phẩm kết thúc ở đây thì tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc hơn nhưng không được vì nga hoàng nhận ra ý nghĩa kêu gọi thanh niên đứng dậy đấu tranh. Cũng vì thế mà tác phẩm kết thúc dang dở. Độc giả sau này băn khoăn vì kết thúc như vậy bất công cho Tachiana, Tachiana xuất hiện nhiều hơn Onheghin và với Tachiana Puskin muốn xây dựng một mẫu hình đẹp lý tưởng về người phụ nữ. Onga có vẻ đẹp về hình thức còn Tachiana được miêu tả bằng vẻ đẹp nội tâm. Có câu hỏi đặt ra: Tại sao lại để nhân vật mình yêu thích rơi vào bi kịch như vậy? - Nhân vật của tôi làm những điều mà chính ngòi bút cuả tôi cũng không ngờ được. Thông qua nhân vật Puskin mở ra một hướng miêu tả mới cho VH nga ( miêu tả chân thực – phức tạp đa dạng, cần suy ngĩ và đánh giá theo nhiều chiều hướng khác nhau. )
F. M. Đôxtôiepxki
I. Cuộc đời
- Ông là một nhà thơ sinh ra dành cho người nghèo, cả cuộc đời ông gắn với nghèo đói bệnh tật, ông là một trong những nhà văn phức tạp nhất của VH nga và thế giới
- Cha ông vốn là một bác sĩ quân y, ông là một con người khinh khỉnh, nóng nảy, hợm hĩnh do phải vật lộn quá nhiều với cuộc sống. Ông đối xử với gia nhân của mình rất khắc nghiệt, ông hay đánh đập vợ, có nhiều người gia nhân chỉ làm rơi trà vào vạt áo cũng bị ông đánh => Hội chứng muốn giết cha trong thơ ông, khi đi học ông muốn xin tiền cha đi uống trà với bạn để bạn khỏi chê mình nhưng ch không cho => Muốn giết cha.
- Mẹ là người nhận nhục và ảnh hưởng lớn đến ông, bà là người có học thức mộ đạo, qua đời ở tuổi 35 để lại 8 người con.
- Bản thân tác giả mắc chứng bệnh động kinh và mỗi lần lên cơn ông lại hoài thai được một tác phẩm lớn, Các tác phẩm của ông đều có nhân vật động kinh
- Cuộc đời của tác giả cũng rất chắc trở, ông yêu rất nhiêu, 2 cuộc hôn nhân ( lần thứ nhất cưới một người phụ nữ đã có chồng con, tác giả còn có chứng đánh bạc vì thế hay mắc nợ nhà xuất bản. Lần 2 ông cưới cô thư kí, khi cô phát hiện ông bị bệnh động kinh nhưng vẫn theo ông, các tác phẩm lưu lại có công lớn của cô. Cuộc đời tác giả rất phức tạp được thể hiện trong các tác phẩm. Tác phẩm phản ánh cuộc sống tinh thần của con người TK XIX, ông để lại di sản đồ sộ trong đó tiêu biểu là bộ ngũ kinh ( 5 tác phẩm thuộc hàng kinh điển thế giới: Tội ác và chừng phạt, chàng ngốc, lũ người quỷ ám, đầu xanh tuổi trẻ, và anh em nhà Karamadop )
II. Tiểu thuyết ‘‘Tội ác và trừng phạt’’ ( 1866 )
- Nhân vật trung tâm là anh chàng sinh viên nghèo Rodion Romanovich Raskolnikov
Các nhân vật chính
|
Nhân vật |
Tiếng Nga |
|
Rodion Romanovich Raskolnikov |
Родион Романович Раскольников |
|
Sonya Semyonovna Marmeladova |
Софья Семёновна Мармеладова |
|
Porfiry Petrovich |
Порфирий Петрович |
|
Avdotya Romanovna Raskolnikova |
Авдотья Романовна Раскольникова |
|
Arkady Ivanovich Svidrigailov |
Аркадий Иванович Свидригайлов |
|
Dmitri Prokofich Razumikhin |
Дмитрий Прокофьич Разумихин |
|
Katerina Ivanovna Marmeladova |
Катерина Ивановна Мармеладова |
|
Semyon Zakharovich Marmeladov |
Семён Захарович Мармеладов |
|
Pulkheria Alexandrovna Raskolnikova |
Пульхерия Александровна Раскольникова |
|
Pyotr Petrovich Luzhin |
Пётр Петрович Лужин |
|
Andrey Semyenovich Lebezyatnikov |
Андрей Семёнович Лебезятников |
|
Alyona Ivanovna |
Алёна Ивановна |
|
Lizaveta Ivanovna |
Лизавета Ивановна |
|
Zosimov |
Зосимов |
|
Nastasya Petrovna |
Настасья Петровна |
|
Nikodim Fomich |
Никодим Фомич |
|
Ilya Petrovich |
Илья Петрович |
|
Alexander Grigorievich Zametov |
Александр Григорьевич Заметов |
|
Nikolai Dementiev |
Николай Дементьев |
|
Polina Mikhailovna Marmeladova |
Полина Михайловна Мармеладова |
- Đây là một tác phẩm viết về cái ác, tội ác
- Đây là tác phẩm dễ đọc nhất. Nhân vật trung tâm là Raskolnikov – Một sinh viên nghèo sống ở Petecbua xong Raskolnikov không mấy quan tâm đến sự nghèo khó của mình anh ta nung nấu một ý tưởng con người phải làm thế nào để thay đổi thế giới đầy dẫy bất công này. Ý tưởng này được Raskolnikov từng trình bày trong một bài báo và cho rằng thế giới chia ra làm 2 loại người:
+ Loại người phi thường: Những người chiếm số ít trong xã hội trăm năm mới có một người, họ có khả năng vượt qua giới hạn, nổi loạn, hành động vì một mục đích, muốn thay đổi trật tự thế giới, loại người này hoặc trở thành ân nhân của nhân loại hoặc thành kẻ hút máu nhân loại.
+ Những con người bình thường chiếm số đông trong xã hội, loại người này theo Raskolnikov tuân thủ theo quy định sống trong sự phục tùng và thích sự phục tùng khi làm việc tệ hại thì bị dằn vặt, loại người này có vô vàn trong xã hội mà Raskolnikov gặp hàng ngày.
- Tình cờ Raskolnikov nghe được trong một quán rượu cuộc trò chuyện giữa một sinh viên và anh chàng sĩ quan, câu chuyện của họ nói về mụ già cầm đồ Elena tham lam độc ác. Raskolnikov nảy ra ý tưởng lập kế hoạch giết mụ già mà anh cho không đáng sống đó. Raskolnikov đã đi thị sát lại con đường đến nhà Elena. Trong sự do dự thì Raskolnikov gặp phải - Một công chức mất việc vì nghiện rượu và ông ta đang phải cưu mang một người đàn bà góa chồng cùng 2 người con của bà. Câu chuyện của đã gây ấn tượng mạnh với Raskolnikov.
- Trên đường trở về nhà Raskolnikov chứng kiến cảnh cô gái trẻ bị chúc rượu và suýt bị làm nhục.
- Về đến nhà Raskolnikov nhận được thư của mẹ và em gái: Mẹ viết Dunhia đã bị mất việc ở nhà ông chủ. Dunhia nhận lời lấy Luzhin để có tiền trang trải cho gia đình và nuôi anh trai ăn học.
- Tất cả những sự việc này đã củng cố ý tưởng của Raskolnikov và thôi thúc anh thực hiện nó tuy nhiên trong giấc mơ Raskolnikov chứng kiến cảnh người ta cầm rìu đập vào đầu một con ngựa già và anh đã ôm con ngựa và khóc => Lương tâm bị dằn vặt. Tỉnh dậy Raskolnikov biết được Lidabetta đi vắng không có nhà, Raskolnikov quyết định đến nhà mụ già cầm đồ và anh đã giết Alyona Ivanovna trong trạng thái vô thức và lấy đồ nữ trang mọi người mang đến để cầm cố vừa lúc đó Lidavesta trở về Raskolnikov đã giết cả người phụ nữ ngộ đạo này. Trên đường trở về Raskolnikov làm rơi một món nữ trang ở cầu thang, Người thợ sơn Nicolai nhặt được.
- Raskolnikov trở về nhà anh ta bị gọi đến đồn cảnh sát nhưng tại đồn cảnh sát anh ta được biết mình bị bắt vì lý do bà chủ nhà kiện anh ta nợ tiền nhà đã lâu không trả, cũng tại đây Raskolnikov nghe người ta bàn tán về cái chết của hai chị em mụ già cầm đồ Elena anh ta lo quá và ngất đi, tỉnh dậy anh ta quay trở về nhà đem toàn bộ số nữ trang dấu xuống một tảng đá
- Raskolnikov rơi vào tình trạng ốm nặng nhờ sự giúp đỡ của người bạn Raskolnikov dần bình phục nhưng trong tâm trạng day dứt, lo lắng, có lúc anh ta định tự vẫn hay đi dầu thú.
- Raskolnikov chứng kiến cảnh ông nghiện rượu bị xe ngựa cán chết giữa đường Raskolnikov đã dùng những đồng tiền cuối cùng của mình lo đám tang cho ông Marmeladov.
- Bất ngờ mẹ và em gái ở quê lên thăm, anh ta vạch bộ mặt thật của người em dể Luzhin.
- Viên dự thẩm được tiếp xúc với Raskolnikov ông ta đã khẳng định Raskolnikov chính là kẻ giết người mặc dù lúc này vụ án tưởng chừng như đã kết thúc vì đã có người nhận tội. ( mặc dù anh thợ sơn nhặt được món nữ trang ấy đã nhận là mình giết người ) và khuyên Raskolnikov ra đầu thú, nhưng Raskolnikov không nghe.
- Người tác động nhiều nhất đến việc ra đầu thú của Raskolnikov chính là Sonya và anh nghe lời cô gái này.
- Kêt thúc tác phẩm Raskolnikov bị kết án đi đầy ở Sibiria Sonya theo anh ta đến nơi đầy ải, Dunhia lấy còn bà mẹ suy sụp rồi qua đời.
2. Phân tích
- Ở đây trung tâm của hiện thực là bức tranh cuộc sống nghèo khổ khốn cùng của những người dân nghèo ở thành phố Petecbua những năm 60 TK XIX là cuộc sống của con người trong những căn nhà thuê chật hẹp, bức bối, hiện lên trong bức tranh đó là số phận của những kẻ khốn cùng: Raskolnikov, Sonya, … là những đứa trẻ … Trong đó Raskolnikov là nhân vật trung tâm – Một sinh viên nghèo không đủ tiền học, tiền thuê nhà và quan trọng hơn là anh ta ý thức được cảnh khốn cùng của thành phố và con người ở Petecbua.
- Chân dung ngoại hình tác giả miêu tả Raskolnikov với những đường nét tương phản nhằm tạo ấn tượng với người đọc ( Nhìn khôi ngô nhưng ăn mặc bộ quân áo rách, hay hình ảnh đội mũ Đức ).
- Raskolnikov là một sinh viên nghèo nhưng anh ta không nghĩ về cái nghèo của bản thân mà nghĩ về sự khốn cùng của thế giới, nỗi đau của Raskolnikov là nỗi đau về nhân cách, nhân phẩm thuộc loại nhỏ nhoi rẻ mạt, bị chà đạp, bị sỉ nhục, căn phòng của Raskolnikov được thuê lại từ một người nghèo, anh ta gọi là chuồng chó, cái tủ, còn bà mẹ nhìn nó giống như một cái quan tài, không gian này không có sự sống, mang tử khí, ngự trị trong căn phòng ấy là một àu vàng xỉn của giấy dán tường, ánh đèn leo lét, giá sách phủ đầy bụi. Đây là một trong những nguyên nhân nẩy sinh hệ tư tưởng tội ác của Raskolnikov.
- Raskolnikov là một sinh viên học luật, người cha đã qua đời, em gái nhỏ vừa sinh cũng qua đời, cha là người yêu văn chương có sáng tác nhưng không được đăng, mẹ và em gái là những người rất nhân từ. Bản thân anh là người có trái tim vị tha ( Gặp đám cháy sẵn sàng lao vào cứu những đứa trẻ, giúp bạn qua cơn hoạn nạn, lo ma chay cho bác nghiện rượu …)
- Hệ tư tưởng của Raskolnikov là tội ác lớn nhất trong tác phẩm và đượng thể hiện qua bài báo mà Raskolnikov đã từng đăng.
- Lý do khiến Raskolnikov muốn thay đổi nhân loại:
+ Nó xuất phát từ cở sử xã hội của hệ tư tưởng: Thế giới khốn cùng không thể chịu đựng được nữa ( Qua chuyên bác nghiện rượu mất việc ).
+ Ba câu chuyện anh chứng kiến trước khi phạm tội: Bác Meeladop, câu chuyện thư của mẹ và em gái, cô gái bị chuốc rượu => Khiến con người vị tha trong anh nổi dậy, anh ta muốn trở thành một kẻ mạnh, sử dụng bạo lực ngay lập tức thay đổi thế giới. Anh lấy ví dụ về Napoleong để minh chứng hay ví dụ vè Niuton
ð Việc dẫn đến tội ác Raskolnikov là điều tất yếu => Nhân vật tư tưởng, con người tư tưởng. Tuy nhiên tư tưởng và nhân vật không trùng khít với nhau, quá trình bị trừng phạt của Raskolnikov trở thành nội dung chính của tác phẩm Raskolnikov bị dằn vặt phải đớn đau trong tư tưởng. Biểu tượng cái rìu trong tác phẩm mà Raskolnikov hướng vào mình cho thấy anh ta đã giết chính mình và giết phần nhân tính trong mình.
ð Tuy nhiên còn hạn chế trong chuyện: Cái thay đổi của Raskolnikov là từ sonya – cô gái điếm, tuy tác giả dành cho họ cái nhìn nhân từ, cảm thông với họ, nhưng hiện thự cuộc sống không đơn giản như vậy.
L. M. Tônxtôi
I. ‘‘Con sư tử của văn học Nga’’
1. Cuộc đời
- Tônxtôi xuất thân trong gia đình đại quý tộc tại trại ấp Iaxnaia Pôliana.
- Lên 2 tuổi mồ côi cha, 9 tuổi mồ côi mẹ, anh em sống cùng bà cô, bà là một nhà giáo dục tuyệt vời có ảnh hưởng không nhỏ tới Tônxtôi.
- Tuổi thơ của Tônxtôi trôi đi êm đềm trong trại ấp giữa lòng thiên nhiên tươi đẹp với các trò chơi dân gian
- Năm 17 tuổi Tônxtôi thi vào trường đại học Kadan nhưng học được 2 năm ông bỏ dở quay về kế thừa trại ấp và trăm lo đời sống cho 330 nông nô. Ông bỏ học vì hầu hết con em quý tộc đến đó không phải học mà để ăn chơi. Chương trình học quá ư cũ kĩ, còn Tônxtôi rất thông minh.
- Ông xây dựng cho mình một kế hoạch tự học và ông biết tới hơn 10 ngoại ngữ
- Con đường văn chương của ông có thể chia làm hai giai đoạn chính.
II. Tiểu thuyết ‘‘ Chiến tranh và hòa bình’’ ( 1863 => 1869 )
1. Nhan đề của tác phẩm
- Voyna i mir : Chiến tranh và hòa bình (Voyna: Chiến tranh; mir: Thế giới; Hòa bình; Nhân dân, cộng đồng, công xã )
2. Thời gian của tác phẩm
- Có thể kể theo thời gian tuyến tính
- Cũng có thể kể kết thúc trước sau đến cụ thể
- Tác phẩm này được viết theo tuyến tính: Năm 1855 Nicolai I qua đời. Năm 1856 Alechxando lên ngôi đã ân xá cho nhưng người tháng chạp trở về, nhiều nhà văn họa sĩ đã miêu tả cảnh trở về của những người tháng chạp, Toonxxtoi cũng dự định viết một cuốn tiểu thuyết mà trong đó theo lời của nhà văn: ‘‘nhân vật phải là một người tháng chạp trở về, người tháng chạp của tôi là một người hăng hái thần bí theo đạo cơ đốc giáo, năm 56 anh ta trở về nước nga cùng với vợ con trai và con gái, anh ta ngước nhìn nước nga bằng cặp mắt nghiêm khắc và hơi lí tưởng, dự định này được tác giả thể hiện trong cuốn những người tháng chạp nhưng viết được ba chương thì ông bỏ dở, từ hiện tại ông ngược lên mốc thời gian năm 1825 để miêu tả lúc họ khởi nghĩa và để trả lời cho câu hỏi: Tại sao họ lại khởi nghĩa? Tonxtoi đã đẩy thời gian của cuốn tiểu thuyết lên năm 1812. từ đây khuôn khổ cuốn tiểu thuyết được mở rộng dần hàng loạt các nhân vật mới xuất hiện, tác giả không chỉ muốn miêu tả một nước nga chiến thắng mà ông còn miêu tả một nước nga trong thất bại vì nhà văn cho rằng: Tính cách nga được bộc lộ rõ nhất không chỉ trong chiến thắng mà còn cả trong những thất bại và được đẩy lên mốc thời gian 1805.
Auxtechic
Bô rô đi nô ( Nga, Áo > < Pháp )
( Nga > < Pháp )
1812 1805
1856 1825
3. Thể loại Thời gian của tác phẩm: 1820 - 1805
- Đa số các hà phê bình xác định tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết anh hùng ca. ( Vừa có đặc điểm tiểu thuyết vừa có đặc điểm của anh hùng ca ) vì:
+ Tác phẩm có một quy mô đồ sộ
+ Đề cập đến những biến cố lịch sử trọng đại có liên quan đến vận mệnh của toàn dân
+ Tác phẩm đưa ra một bức tranh sinh hoạt rộng lớn với sự tham gia của hầu hết các tầng lớp xã hội khác nhau đã khắc họa sắc nét tinh thần dân tộc khám phá các quy luật lịch sử cũng như chiều sâu nội tâm hết sức đa dạng của con người.
+ Tác giả đã nhìn nhận và đánh giá các biến cố lịch sử cũng như con người theo quan niệm của nhân dân xem quần chúng nhân dân như người sáng tạo lịch sử, ngọn nguồn đạo đức và sức mạnh của cộng đồng.
=> Tác phẩm xứng đáng được gọi là Tiểu thuyết anh hùng ca.
4. Hệ thống nhân vật
- Theo thống kê tác phẩm có 559 nhân vật, trong tác phẩm này có một đặc điểm về nhân vật là nhân vật đám đông. Nhưng nhà nghiên cứu Nubarop muốn tính đếm nhân vật trong chiến tranh và hòa bình thì nhân vật về số lượng phải tính tới 3 chữ số hơn một nghìn, kiểu nhân vật đám đông tạo ra một nét đặc trưng riêng cho tác phẩm với các tiểu thuyết trước đó ở nga và thế giới. Nhân vật phân làm 2 tuyến:
+ Quý tộc
+ Nhân dân quần chúng được miêu tả trong sự đối lập sâu sắc.
a) Hệ thống nhân vật quý tộc ( Gồm 3 loại )
- Những đại thần những phu nhân có cuộc sống xa hoa phù phiếm ở Petecbua. Họ là những con người có vẻ bề ngoài sang trọng nhưng đời sống nội tâm trống rỗng, đại diện là gia đình bá tước Kuraghim ( Elen, Ancitôn )
- Những gia đình đại thần quý tộc đã nghỉ hưu từ triều trước: Boonconxki
( Anđrây ), Bêrukhop ( Pie )
- Gia đình quý tộc trung lưu ở nông thôn: Rooxxtop ( Natasa ). Loại này được miêu tả là những con người giản dị, đôn hậu, có cuộc sống gần gũi với thiên nhiên.
b) Đám đông quần chúng nhân dân: Theo thống kê có hơn 2 trăm nhân vật xuất thân từ tầng lợp này ( Binh lính, nông nô, người bình dân ) trong cuộc sống hàng ngày họ là những con người giản dị, khi tổ quốc lâm nguy họ trở thành một khối đoàn kết thống nhất chống lại sự xâm lược của Napoleong, tư tưởng của họ trở thành tư tưởng chính của tác phẩm. Với tác giả những con người này là những người làm nên lịch sử và có khả năng xoay chuyển lịch sử ( Kutudop > < Napoleong )
A. T. Sê khốp ( 1860 – 1904 )
I. Vài nét về tác giả và sự nghiệp
1. Tác giả
- Ông sinh ra trong một gia đình tiểu thương tại một thị trấn tên là Taganroc nằm bên bờ biển.
- Ông nội của nhà văn vốn là một nông nô sau nhiều năm lao động dành được một số tiền chuộc lại tự do cho cả gia đình.
- Nguồn gốc từ nô lệ giúp nhà văn lí giải được những thói xấu của tầng lớp tiểu thị dân, nó xuất phát từ tâm lí nô lệ: Sự sợ hãi chính cuộc sống của mình và cũng chính nguồn gốc ấy giúp người đọc lí giải được đối tượng miêu tả chủ yếu trong sáng tác của ông là những con người bình thường trong cuộc sống đời thường, nó khác với các nhà văn nga nổi tiếng khác.
- Cha ông là người có ít nhiều năng khiếu nghệ thuật song ông lại là một người gia trưởng giáo dục con rất nghiêm khắc.
- Năm 9 tuổi ông bỏ học trường trung học nhưng chưa học xong thì gia đình phá sản phải về Matxcova, một mình ông ở lại để học hết trung học vừa học vừa kiếm tiền thêm giúp đỡ gia đình.
- 1880 ông về Matxcova và học trường Đại học y 4 năm sau ông tốt nghiệp và trở thành bác sĩ.
- Nghề bác sĩ giúp ông:
+ Có cơ hội tiếp xúc với các bệnh nhân đủ mọi loại người, đem lại cho ông vốn sống phong phú và hình thành tính kiên nhẫn sự nhu hòa, khă năng kiền chế chừng mực, phương pháp phân tích chẩn bệnh một cách khoa học phù hợp với con người.
+ Nghề bác sĩ giúp ông có tư duy một bác sĩ, giúp ông hiểu hơn ai hết lí tưởng về một con người khỏe mạnh đó là sự cân bằng thống nhất giữa thể xác và tinh thần. từ đây hình thành quan điểm của ông về mối quan hệ biện chứng giữa thể xác và tinh thần con người.
+ Tư duy của bác sĩ giúp ông hiểu được bệnh chữa được không chỉ phụ thuộc đơn thuần vào người chữa bệnh mà còn phụ thuộc vào bệnh nhân.
2. Sự nghiệp
a) Thời kì đầu ( Những năm 80 )
- Ngay thời kì này ông đã trở thành một nhà văn viết truyện ngắn có tài với nhiều bút danh ( người nóng tính, thầy thuốc không có bệnh nhân, Người không có lá lách, Kẻ trọc cười, Antonsa Sekhonte, … )
=> Thể hiện khả năng châm biếm xuất sắc, gây cười sâu cay, chủ yếu đăng nhiều trên các tờ báo lá cải, những tờ tạp chí hài hước gây cười rẻ tiền.
b) Những năm 90
- Ông biết mình bị bệnh ( Lao phổi )
- Ông cố gắng viết khách quan, dấu nó dưới mạch ngầm của văn bản.
- 10 năm cuối đời ông lại có xu hướng viết kết hợp giữa cái chủ quan với khách quan, giai đoạn này ông lên đường đến đảo Xakhalin. Sau khi về ông cho ra đời tác phẩm ‘‘ Đảo Xakhalin’’
3. Một vài đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Sê khôp
- Ông đến với VH Nga khi mà tiểu thuyết đang ở thời kì đỉnh cao, ông tạo ra cho mình một con đường đi mới, ông không viết tiểu thuyết mà đi vào viết truyện ngắn, những truyện ngắn của ông chỉ là những tình huống nhỏ nhưng qua đó người ta thấy được bức tranh hiện thực nga ở thời đại đau yểu, có những truyện như không có truyện gì cả mà lại như có truyện.
a) Xây dựng cốt ‘‘Truyện không có chuyện’’ ( Không có sự kiện, không có biến cố )
- ông luôn hướng về những cốt truyện giản dị, viết về những điều rất bình thường trong cuộc sống đời thường để nói về những chuyện dường như không có chuyện, truyện của sê khôp không có những nhân vật anh hùng, những cảnh giật gân gây ấn tượng mà chỉ là những con người bình thường thậm chí tẻ nhạt: Một bác đánh xe ngựa, Một vài người nông dân, Bác thợ mộc đóng quan tài, Những viên chức tỉnh lẻ, …
+ Nguyên nhân khách quan: Thời đại ông sống – Thời đại đau yếu ( Chủ nghĩa tư bản phát triển ở Nga ), đa phần dân trí thức không muốn làm gì, không muốn thay đổi. Nơi ông sinh ra và lớn lên ông gắn bó với những con người đời thường nên ông hiểu họ
+ Chủ quan: Quan niệm của nhà văn về hiện thực và những nguyên tắc nghệ thuật mà nhà văn tự đề ra cho mình:
- Phải miêu tả hiện thực một cách chân thật, thước đo giá trị của mọi tác phẩm văn học chính là ở độ chân thực của hiện thực được phản ánh vào trong tác phẩm.
- Miêu tả hiện thực xuất phát từ sự trần trụi của cuộc sống
- Phải ngắn gọn trong miêu tả, nghệ thuật viết văn là lược bỏ.
- Nhà văn cần dũng cảm độc đáo, tránh sáo mòn.
b. Nghệ thuật trần thuật
* Giai đoạn những năm 80
- Ông viết một số lượng lớn các truyện ngắn dung lượng không dài
- Giai đoạn này có đặc điểm là trần thuật chủ quan, người kể chuyện toàn chi ( Biết hết mọi chuyện )
- Giai đoạn này ông xây dựng kết cấu cốt truyện giống một hoạt cảnh, giai thoại ( Cuộc đối thoại giữa các nhân vật, tình huống ngẫu nhiên bất ngờ - Chuyện cái chết một công chức; truyện con kì nhông, truyện anh béo anh gầy )
VD: Truyện ‘‘anh béo anh gầy’’ – Truyện có 2 nhân vật là những người bạn cũ tình cờ gặp nhau trên sân ga. Họ gặp nhau ôm hôn nhau thắm thiết, anh béo đi một mình, anh gầy có vợ đi cùng, họ nói chuyện hỏi thăm nhau. Anh gầy nói anh có thời gian làm công chức giờ đã nghỉ làm bán thuốc và giới thiệu vợ con rồi hỏi lại anh béo. Anh béo giờ là quan bậc bốn sau đó họ chia tay nhau ( Truyện đề cập đến sự thay đổi cho thích nghi với hoàn cảnh )
* Những năm 90
- Ông chuyển sang trần thuật khách quan, miêu tả và trần thuật theo giọng điệu của nhân vật, ông cho rằng ‘‘người làm văn chương phải khách quan như một nhà khoa học’’, ‘‘ muốn làm người đọc thương tâm hãy cố gắng trở nên lạnh lùng’’
VD: ‘‘Buồn ngủ’’ – Nói về một em bé nhà nghèo đi làm thuê cho một địa chủ, em phải làm mọi việc ban ngày, tối lại phải trông đứa trẻ mới sinh, có nhiều lúc buồn ngủ em ngủ thiếp đi và mơ thấy bố mẹ, rồi lại bị ông chủ gọi dậy, lại phải tiếp tục trông em bé, do mơ màng em đã bóp chết đứa trẻ
* Mười năm cuối đơi
- Mạch ngầm tự sự ( Dòng chảy ngầm trong tác phẩm văn chương mà người đọc phải đoán định nó qua những tín hiệu trên bề mặt văn bản. trong truyện của tác giả dòng chảy này có thể được thiết lập nhờ sự tổng hợp, sự liên tưởng, liên kết đối chiếu các tín hiệu thẩm mĩ, cái mà nhà văn thể hiện bên trong văn bản với độc giả, tác giả không phải là người đưa ra kết luận cuối cùng mà để chỗ cho độc giả đồng sáng tạo ) Kết hợp với mạch trữ tình.
VD: truyện Người đàn bà có con chó nhỏ - Người đàn bà đi cùng con chó nhỏ trên bãi biển bà không có tên cụ thể nên người ta gọi là người đàn bà và tạo cho người ta cảm giác cô đơn vì không có người nhà đi cùng, thiếu sự chăm sóc mà phải tìm đến con chó. Từ câu chuyện tầm phào ấy tác giả đưa ra vấn đề: ừ người đàn bà cô đơn ấy tác giả đưa ra một nhân vật khác là anh thanh niên làm việc trong một ngân hàng đi chơi một mình, anh ta có vợ, có con, có nhiều mối tình, vợ anh là một người tốt, anh ta không yêu vợ nhưng không thể hiện ra, anh đi nghỉ mát cũng để kiếm mối tình, anh quen người đàn bà, sau đó anh biết tên bà và 2 người đi dạo sau đó anh về phòng người đàn bà chơi, bà kể cho anh nghe về người chồng của mình – người chung thủy, người của gia đình nhưng bà không thích, nghe xong anh cảm thấy hình như những người phụ nữ trước đến với mình cũng vậy. Anh ta điềm nhiên đến bên bàn bổ quả dưa ăn khi bà đang nói chuyện – Đó được coi là chi tiết thừa nhưng nó là điểm báo hiệu cho sự lạc lõng trong tâm hồn, nhờ kinh nghiệm tình trường anh chinh phục được người đàn bà họ có những ngày nồng thắm bên bờ biển, rồi họ trở về nhà, sau đó anh phát hiện anh yêu thực sự người đàn bà Ana, kronop nói dối vợ đi công tác để đi tìm bà, đến nhà anh gặp hàng dào sắt trước nhà người phụ nữ ấy – Đó cũng được coi là chi tiết thừa nhưng có giá trị như chi tiết bổ quả dưa hấu. Sau anh đến nhà hát thấy người phụ nữ đang đi với chồng, sau đó họ hẹn gặp nhau, họ đều thấy rằng mình đã yêu đối phương. Sau đó Ana nói dối chồng lên thành phố chữa bệnh và họ thường xuyên gặp nhau tại căn phòng thuê. Rồi sau anh nhận ra cô gái này chỉ như con gái mình, họ muốn tìm cách giải thoát nhưng truyện kết thúc.
* Tác phẩm ‘ Người trong bao’’
- Tác giả miêu tả cuộc sống của một con người một thầy giáo trong một trường trung học – Lối sống trong bao: Có ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong suốt 15 năm, nhân vật chính đâu đó trong xã hội hiện nay nhiều vô cùng, mỗi người có thể tìm thấy một chút bóng dáng của mình, căn bệnh ấy cản trở sự phát triển của xã hội. hai người đi săn và nghỉ lại trong nà lí trưởng, đêm ấy nghe bước chân của người vợ lí trưởng – người chưa ra thành phố, bước chân ấy khiến puzhin nghĩ đến beelekop – Một giáo sư dạy tiếng Hi lạp, chứ không phải ngôn ngữ khác vì đây là con người yêu quá khứ, ca ngợi quá khứ, lối sống của ông ta cũng đặc biệt, cái gì cũng để trong bao, mặc áo choàng cả trời nóng cũng như trời lạnh, phòng ngủ kín mít, đi ngủ buông màn và đắp chăn, 40 tuổi mà belekop chưa lấy vợ, ông sợ lấy vợ xảy ra chuyện gì, chỉ tin vào báo chí. Khi chị em Valenka xuất hiện – Chị em họ là người hiện đại, mọi người giới thiệu valenka cho Velekop nhưng Velekop sợ không dám lấy. Một lần thấy 2 chị em đi xe đạp thấy điều đó Velekop can thiệp bảo là không chấp nhận được, người em phản ứng gay gắt với Velekop. Khi nhìn thấy người em đẩy Velekop ngã xuống Valenka nhìn thấy cười sau đó Velekop về mắc bệnh chết. Người dân biết tin thở phào được 15 ngày sau đó mọi việc lại trở lại như cũ.
M. Gorki ( 1868 – 1936 )
I. ‘‘Một cuộc đời không thỏa hiệp với hoàn cảnh’’
- Câu nói thể hiện thái độ của nhà văn trước thực tại và quan điểm sống của ông.
1. Tiểu sử
- Gia đình: lao động nghèo bên bờ sôngVonGa, mồ côi cha mẹ từ khi 10 tuổi, ở với ông bà ngoại, hai ông bà khác tính nhau, ông dạy cho chữ nhưng hay đánh cháu nên cháu rất bực tức, hay phản kháng lại ông. Ông rất yêu quý con mèo, giận ông ở nhà Gorki lấy kéo cắt đuôi con mèo và bị ông đánh. Bà là hiện thân của thần thiện, ông bảo người với người là thù địch, bà lại bảo sống phải biết yêu thương mọi người. ‘‘Tuổi thơ của tôi trôi đi giữa đôi bờ thiện ác’’. Cách dạy của ông trải gai góc cho tác giả vào đời.
- Lao động: 10 tuổi Gorki phải ra ngoài lao động nên tác giả tự lập, tự tin từ sớm, cũng từ đây tác giả được tiếp xúc với người lao động và tiếp thu những phẩm chất tốt đẹp của họ ( Chịu thương, chịu khó …)
- Học thức: Gorki chỉ học hết lớp 4 vì gia đình khó khăn ‘‘ bánh mì đâu ra để học’’. Bằng con đường tự học ông tự hoàn thiện mình, đọc sách dưới ánh sáng đèn đường, của ngọn nến, của ánh trăng … ( ở nga những nơi công cộng người dân hay đọc báo trên xe, trên tàu điện … ). Ông là một tấm gương tự học lớn, cũng trong quá trình ấy ông nhận ra mình có khả năng văn chương.
II. Những truyện
Phạm Huy Tâm @ 07:24 06/07/2015
Số lượt xem: 1970
- Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt (06/07/15)
- Môn Lí luận văn học (06/07/15)
- Tài liệu môn Ngữ âm học! (18/06/15)
- Tài liệu môn Tâm lí giáo dục! (18/06/15)
- Tài liệu môn Phong cách học! (18/06/15)
Các ý kiến mới nhất