Gốc > Trang văn học lịch sử địa lý trong và ngoài nước,Câu đố,trò chơi! > Lịch sử Việt Nam! > Sau 1945 > Nhân vật lịch sử >

Anh hùng thời chống Mỹ

Nguyễn Văn Trỗi (1940 – 1964)
 
Ngày 2-5-1964, một sự kiện gây chấn động dư luận thời bấy giờ là kế hoạch gài bom dưới chân cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) hòng giết chết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac Namara. Người thực hiện kế hoạch này là chiến sĩ biệt động nội thành Nguyễn Văn Trỗi.Tháng 5-1964 chính phủ Mỹ cử một phái đoàn chính trị quân sự cao cấp sang Sài Gòn nghiên cứu tình hình miền Nam. Với lòng căm thù giặc, anh xin Ban chỉ huy quân sự biệt động cho anh thực hiện nhiệmvụ tiêu diệt phái đoàn này. Do bị lộ, trước giờ xe Mac Namara chạy qua anh bị bắt. Trận đánh không thành, nhưng là một đòn cảnh cáo đối với những hoạt động chuẩn bị leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ. Macnamara không dám đi xe vào Sài Gòn mà phải đi trực thăng.Trong nhà lao, dụ dỗ không được, địch dùng nhiều cực hình nhưng anh cương quyết không khai báo.Trước kẻ thù, câu trả lời duy nhất của anh là : "Tôi nói với mấy người, tôi làm việc phải, tôi giết bọn cướp nước thì dù nguy hiểm, thương tật hay hy sinh, tôi cũng vui lòng. Tôi không thể sống như bọn tay sai mong được an thân để làm hại đồng bào!". Chính quyền Nguyễn Khánh đưa anh ra tòa án quân sự kết án tử hình nhằm uy hiếp tinh thần chống Mỹ trong nhân dân thời bấy giờ. Được tin này, phong trào cáchmạng Vénézuéla tuyên bố, nếu tử hình anh họ sẽ trừng trị ngay tên trung tá Mỹ mà họ đang bắt giữ. Mỹ buộc phải cam kết không tử hình anh. Nhưng khi tên trung tá Mỹ vừa được thả ra thì chúng trở mặt. Ngày15-10-1964, bọn đao phủ Mỹ ngụy đưa anh ra pháp trường tại bãi bắn sau nhà lao Chí Hòa. Trong phút cuối cùng của đời mình, anh giật phắt mảnh băng đen mà kẻ thù bịt mắt và dõng dạc nói : "Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!". Và anh hô to : "Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đếquốc Mỹ!" "Hồ Chí Minh muôn năm!" "Việt Nam muôn năm!" Anh hy sinh lúc 9 giờ 45 phút ngày 15-10-1964 hưởng dương 24 tuổi. Sau khi hy sinh, anh được Đảng nhân dân cách mạng miền Nam truy nhận là Đảng viên và truy tặng Huân chương thành đồng hạng nhất.
 
 
 
IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:10pm
Liệt sĩ Vũ Bảo (1949- 1963)
 
Tên thật là Võ Văn Bảo sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thốngcách mạng tại xã Cát Khánh (Phù Cát). 14 tuổi, Vũ Bảo đã giác ngộ cách mạng và tham gia làm giao liêndu kích. Với lòng nhiệt tình, xông xáo và mưu trí, Vũ Bảo luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ đượcgiao. Ngày 20/7/1963, giặc bất ngờ đổ quân bao vây thôn An Quang hòng tiêu diệt các cán bộ cách mạngđang công tác tại đây. Trong lúc chèo thuyền đưa các cán bộ vượt vòng vây, Vũ Bảo đã anh dũng hy sinh.Trước khi hy sinh, Vũ Bảo nói: "Một mình cháu hy sinh cũng không ảnh hưởng nhiều đến cách mạng. Nếu các chú hy sinh thì thiệt hại cho Tổ quốc, cho đồng bào nhiều lắm." Hành động hy sinh dũng cảmcủa Vũ Bảo đã được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba. Ngày 17/7/2002, Chủ tịch nước đã truy tặng liệt sĩ Vũ Bảo danh hiệu anh hùng lựclượng vũ trang nhân dân.
 
IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:12pm
Trừ Văn Thố (1936 – 1963)
 
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (truy tặng 1965), chiến sĩ trinh sát đặc công. Quê: xã Thanh Hoà, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nhập ngũ năm 1962. Ngày18.10.1963, trong trận đánh đồn Cây Trường, huyện Bến Cát, nay thuộc tỉnh Bình Dương, bị thương vào đùi, Trừ Văn Thố vẫn tiếp tục chiến đấu. Bộc phá và thủ pháo không diệt được hoả điểm súng máy tronglô cốt địch cản đường tiến của quân ta, Trừ Văn Thố đã xông lên, lấy thân mình lấp lỗ châu mai, vô hiệuhoá hoả lực địch và tạo điều kiện thuận lợi cho đồng đội diệt địch chiến thắng. Huân chương Quân công hạng ba.
IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:19pm

Nguyễn Viết Xuân (1934-1964)

 

Nguyễn Viết Xuân (1934-1964), dân tộc Kinh, quê xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc - một vùng quê có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Anh là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Truy tặng, 1/1/1967), Khi hy sinh, anh là thiếu uý, chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, sư đoàn 325, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Huy chương Kháng chiến hạng Nhì, 6 bằng khen và giấy khen.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 7 tuổi, Nguyễn Viết Xuân đã phải sống một cuộc đời đi ở kéo dài suốt 10 năm. Khi vừa tròn 18 tuổi, anh đã dũng cảm vượt vùng tạm chiến ra vùng tự do, xin đi bộ đội. Nhập ngũ tháng 11 năm 1952, lúc đầu, anh làm chiến sỹ trinh sát, rồi tiểu đội trưởng trinh sát, trung đội trưởng pháo cao xạ, sau làm chính trị viên đại đội. Bất kỳ ở cương vị nào, Nguyễn Viết Xuân cũng luôn nêu cao quyết tâm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, gương mẫu, xung phong đi đầu, cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, anh đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu, không ngại hy sinh, gian khổ, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, giải phóng miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, đơn vị của Anh làm nhiệm vụ huấn luyện và xây dựng. Bản thân, tuy sức yếu hơn so với đồng đội, song công việc nào được giao, dù nặng nhọc, vất vả, đồng chí vẫn phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Năm 1964 bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta, Nguyễn Viết Xuân với vai trò là một bí thư chi bộ, một chính trị viên đại đội pháo cao xạ, đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên quyết tiến công địch. Tiêu biểu là trận đánh địch ngày 18 tháng 11 năm 1964. Trong trận chiến đấu này, Mỹ đã huy động nhiều tốp máy bay đánh phá ác liệt vùng ChaLo thuộc miền tây tỉnh Quảng Bình. Ngay đợt đầu, 3 chiếc máy bay F.100 bất ngờ lao vào trận địa của đại đội Nguyễn Viết Xuân. Loạt đạn đầu tiên của khẩu đội 3 đã đón đánh chiếc đi đầu trong tốp, bọn địch đổi hướng tấn công và tập trung oanh tạc vào Khẩu đội 3. Cả trận địa nổ súng giòn giã, đánh trả quyết liệt lũ cướp trời, một chiếc trong tốp bay của địch trúng đạn bốc cháy, nhưng một chiếc khác đã phóng một loạt tên lửa về phía khẩu đội 3. Bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Viết Xuân lao ra khỏi công sự, đứng bên khẩu đội 3 đĩnh đạc tỏ rõ khí phách và hô lớn: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”

Giữa làn bom đạn địch, tiếng hô dõng dạc của anh vang trên trận địa đã trở thành khẩu hiệu khích lệ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn đơn vị và trên khắp các chiến trường đánh Mỹ. Lưới lửa của đại đội vây chặt lũ máy bay Mỹ và một chiếc nữa lại phải đền tội. Trận chiến đấu vừa tạm dứt, anh đi khắp các khẩu đội để nắm tình hình động viên quyết tâm tiếp tục chiến đấu. Máy bay địch lại ập đến, điên cuồng bắn phá trận địa của đại đội. Một lần nữa cuộc chiến đấu lại diễn ra khốc liệt tiếng máy bay của địch gầm rú trên bầu trời liên tiếp nhả các loạt bom xuống trận địa, anh bị thương nặng, gãy nát đùi bên phải. Nhưng Nguyễn Viết Xuân vẫn thản nhiên bảo y tá cắt nốt phần thịt dính vào chân, bỏ chân đi cho đỡ vướng. Đồng chí nói: “Tôi không việc gì” và căn dặn y tá không được cho mọi người biết. Và vẫn tỉnh táo theo dõi cuộc chiến đấu, biểu dương kịp thời những chiến sĩ và khẩu đội lập công. Sau trận chiến đấu ác liệt, anh chỉ định người thay thế, phân công người chăm sóc các đồng đội bị thương, bình tĩnh bàn giao cộng việc rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trở về tuyến sau, vết thương quá nặng, máu ra nhiều, nguyễn Viết Xuân thấy mình khó qua được, anh đã bình tĩnh trao đổi nhiệm vụ với người thay thế, dặn dò cặn kẽ việc chấp hành Nghị quyết của Chi bộ và nêu một số đề nghị về công tác phát triển Đảng, Đoàn và khen thưởng trong đơn vị. Khi hy sinh, anh là thiếu uý, chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, sư đoàn 325, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tấm gương chiến đấu anh dũng quên mình vì nhiệm vụ của đồng chí được cán bộ chiến sĩ trong đơn vị rất cảm phục, cả đại đội 3 đã dấy lên một cao trào thi đua, kiên quyết chiến đấu lập công, trả thù cho người chính trị viên yêu quý của mình.

Quansuvn.net

IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:27pm

THÁI VĂN A

(1942 - 2001)

 

Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam (1967). Quê: xã Trung Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình. Nhập ngũ năm 1962, đại tá (1988), đảng viên Đảng Cộng sản ViệtNam từ năm 1965. Trong Kháng chiến chống Mĩ, là chiến sĩ trinh sát trên đảo Cồn Cỏ, nơi bị máy bay và tàu chiến đánh phá ác liệt. Chân đài quan sát bị gãy, đài bị nghiêng, người bị thương, Thái Văn A vẫn không rời vị trí quan sát, tiếp tục theo dõi xác định vị trí mục tiêu cho đơn vị bắn. Trong 3 năm làm nhiệm vụ trên đảo, Thái Văn A đã góp phần cùng đơn vị bắn rơi 20 máy bay Mĩ (riêng tổ trinh sát trực tiếp bắn rơi một chiếc) và xác định các vị trí có bom địch chưa nổ để công binh xử lí (máy bay địch thường trút bom ở đây trước khi về hạ cánh trên tàu sân bay). Huân chương Chiến công hạng nhì.

IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:29pm
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ CHIÊN
 
 
 
 
Nguyễn Thị Chiên sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội trưởng trung đội nữ du kích xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Gia đình Nguyễn Thị Chiên rất nghèo. Hết mồ côi cha rồi đến mẹ, đồng chí phải đi ở cho địa chủ, khổ cực ngay từ nhỏ. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí thoát khỏi cuộc đời đi ở. Được cán bộ cách mạng giáo dục, dìu dắt, Nguyễn Thị Chiên dần dần hiểu biết và tích cực tham gia hoạt động. Đồng chí đã làm công tác phụ nữ, tổ chức du kích, xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, chiến đấu chống giặc bảo vệ xóm làng..., công tác nào cũng nêu cao tinh thần tận tụy, gương mẫu, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Năm 1946, Nguyễn Thị Chiên làm giao thông cho đoàn thể phụ nữ và du kích thôn. Năm 1947, được cử làm tiểu đội trưởng nữ du kích. Năm 1948, làm trung đội phó. Ở cương vị nào đồng chí cũng tích cực làm tốt mọi việc, được chị em rất tín nhiệm. Trong hoàn cảnh thiếu thốn của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã vận động chị em cày ruộng, vỡ hoang cấy lúa, tự túc lương thực và mua sắm trang bị.
Tháng 12 năm 1949, địch âm mưu cướp phá kho lương thực ở các địa phương, Nguyễn Thị Chiên đã chỉ huy đội nữ du kích đánh trả quyết liệt bảo vệ được kho muối.

Tháng 4 năm 1950, địch càn phá, khủng bố ác liệt, cán bộ bị bật hết ra ngoài, một đêm Nguyễn Thị Chiên đang dẫn đường đưa đồng chí bí thư chi bộ về hoạt động thì bị bọn giặc phục kích. Nguyễn Thị Chiên đã ra hiệu để đồng chí cán bộ chạy thoát còn mình thì bị địch bắt. Địch dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ tra tấn dã man, nhưng đồng chí đã nêu cao tinh thần bất khuất trước kẻ thù, kiên quyết không khai một lời. Sau ba tháng rưỡi, chúng không khai thác được tài liệu gì, buộc phải thả đồng chí. Điều trị vừa hồi sức, đồng chí lại tiếp tục hoạt động. 

Tháng 5 năm 1951, đội nữ du kích do đồng chí chỉ huy hoạt động mạnh, phá đường, quấy rối, phá tề... gây nhiều khó khăn cho địch. Một lần xin trên được bảy quả mìn, đồng chí đã chỉ huy chị em gài mìn phục kích giặc, diệt 5 tên, làm bị thương 7 tên, gây phấn khởi, tin tưởng trong toàn đội và được tín nhiệm với nhân dân trong vùng tạm chiếm.

Tháng 7 năm 1951, bọn giặc điên cuồng đánh phá cơ sở cách mạng của ta, lùng bắt cán bộ, đảng viên, đàn áp nhân dân. Tình thế rất gay go, nhưng được cấp uy chỉ đạo trực tiếp, đồng chí đã tích cực tuyên truyền, vận động, giúp đỡ nhân dân, xây dựng lại được cơ sở ở 5 thôn, làm chỗ đứng chân cho cách mạng.
Tháng 10 năm 1951, đồng chí chỉ huy đội du kích phối hợp với bộ đội phục kích địch trên đường 39. Khi nổ súng, địch chạy tán loạn, đồng chí đã dũng cảm cùng bộ đội truy kích địch. Riêng đồng chí bắt, trói được 6 tên, bắn bị thương 1 tên, thu 4 súng.

Tháng 12 năm 1951, đội nữ du kích phối hợp với bộ đội phục kích đánh địch chống càn. Lợi dụng địch chủ quan sơ hở, không đề phòng, Nguyễn Thị Chiên đã cùng đồng đội bất ngờ xông ra bắt sống 4 tên, có tên quan hai chỉ huy đang đi sục vào làng. Khi giặc tiến công vào, đồng chí đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu. Riêng đồng chí đã bắn chết 3 tên, bắt sống 4 tên, giật được 1 súng.

Tháng 1 năm 1952, phối hợp với bộ đội đánh bốt An Bồi, đồng chí đã dũng cảm cùng đồng đội bò vào cắt hàng rào, đánh bộc phá ném lựu đạn và cùng anh em xông vào bốt bắt sống 6 tên ngoan cố đang lẩn trốn, trong đó có tên đồn trưởng. Trận này đồng chí còn cõng được 6 thương binh ra ngoài an toàn.
Trong mọi mặt công tác, đồng chí đều gương mẫu đi đầu, tích cực học tập, rèn luyện, đoàn kết giúp đỡ chị em trong đội, xây dựng trung đội nữ du kích trưởng thành về mọi mặt.

Nguyễn Thị Chiên đã được tỉnh, huyện, xã khen 8 lần. Trong Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tháng 5 năm 1952, đồng chí được Hồ Chủ tịch tặng khẩu súng ngắn của Người, được Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

Ngày 19 tháng 5 năm 1952, Nguyễn Thị Chiên được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:31pm

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN SONG

 

Nguyễn Văn Song sinh năm 1923, dân tộc Kinh, quê ở xã Thới Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đội trưởng du kích xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Gia đình Nguyễn Văn Song rất nghèo, năm 12 tuổi, đồng chí đã phải đi ở cho địa chủ. Cực khổ quá không chịu nổi, năm 17 tuổi, đồng chí bỏ trốn về đi làm thuê kiếm sống.

Cách mạng tháng Tám thành công chưa đầy một tháng, giặc Pháp lại trở lại xâm lược miền Nam, đồng chí xung phong vào đội quân cảm tử của địa phương (9-1945). Tháng 2 năm 1947 đồng chí bị địch bắt và tra tấn dã man nhưng không hề hé răng khai báo nửa lời. Địch đem đồng chí ra bắn ở bờ sông. Nhân lúc chúng sơ hở, đồng chí đã trốn thoát. Tháng 3 năm 1948, đồng chí xung phong vào bộ đội ở đơn vị đại đội 11 trung đoàn 301. Tháng 2 năm 1950 trong hoàn cảnh sinh hoạt hết sức thiếu thốn của thời gian đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thuốc men không có, bệnh tật có những diễn biến xấu và do hậu quả cuả những trận đòn thù tra tấn đã man, Nguyễn Văn Song được đơn vị cho về nhà nghỉ 6 tháng. Sau khi khỏi bệnh thì đơn vị đi xa, mất liên lạc, đồng chí gia nhập đội du kích và hoạt động ở địa phương. 

Gần 9 năm tham gia chiến đấu, khi ở bộ đội cũng như khi hoạt động du kích ở địa phương, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần chủ động, hăng hái đánh giặc, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn ác liệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã tham gia chiến đấu hơn 30 trận, tự tay đốt cháy 12 xe vận tải của địch, diệt 5 tên thu 8 súng, vận động được nhiều binh lính ngụy trở về với nhân dân, góp phần tích cực duy trì và phát triển phong trào cách mạng ở địa phương.

Đặc biệt từ năm 1950 đến năm 1954, làm tiểu đội trưởng du kích, đồng chí đã kiên trì và tích cực bám đất, bám dân để hoạt động. Có lần tiểu đội đồng chí đảm nhiệm một mũi chặn địch trên đường 13, địch đông gấp bội, Nguyễn Văn Song đã bình tĩnh động viên tiểu đội kiên quyết chiến đấu, riêng đồng chí đã đốt được 5 xe vận tải, góp phần chặn đứng quân địch, bảo vệ được tài sản và tính mạng của nhân dân.
Nhiều lần, đồng chí đã cùng với bộ đội đi điều tra và diệt đồn. Điển hình là trận Tân Định và Vĩnh Hòa, đồng chí đã kiên trì dựa vào nhân dân bám địch mấy tháng liền, nắm vững tình hình và đưa đường cho bộ đội vào đánh đồn, giành thắng lợi.

Nguyễn Văn Song luôn luôn được đồng đội và nhân dân yêu mến. Năm 1952, đồng chí được bầu là chiến sĩ giết giặc xuất sắc của tỉnh. Trong Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tháng 5 năm 1952, đồng chí được Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

Ngày 19 tháng 5 năm 1952, Nguyễn Văn Song được Chủ tịch nước Việt Namdân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

IP IP Logged
 
ThuyTien 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 17 May 2010 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 263 
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 11 Jan 2012 lúc 5:33pm
ANH HÙNG NÚP
 
 
 
 

Núp sinh năm 1914, dân tộc Ba Na, quê ở thôn Sê Tơ, xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thôn đội trưởng du kích, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Núp mồ côi cha mẹ từ khi 10 tuổi. Năm 15 tuổi Núp đã phải đi phu và bị đánh đập dã man, nên đồng chí sớm căm thù quân giặc. Năm 1935, quân Pháp về lùng bắt phu, dân làng lánh hết vào rừng, một mình đồng chí ở lại dũng cảm dùng nỏ bắn chết một tên giặc. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Lính Pháp qua làng, đồng chí mưu trí đi báo Nhật về vây bắt bọn lính Pháp, lợi dụng cơ hội lộn xộn, Núp lấy được một khẩu súng và 10 hòm đạn.

Trong Cách mạng tháng Tám, đồng chí tích cực tham gia tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, và từ đó đến năm 1954, hoạt động chiến đấu ở địa phương. Trong hoàn cảnh rất khó khăn : địch liên tiếp càn quét, đốt làng, dồn dân, phá rẫy, nhân dân thì trình độ giác ngộ chưa cao, lại đói rét, thiếu muối, bệnh tật nhiều... đồng chí đã luôn luôn dũng cảm, gương mẫu đi đầu trong chiến đấu và sản xuất, kiên trì vận động tổ chức nhấn dân vượt qua mọi khó khăn, vừa bảo đảm sản xuất tốt, vừa chiến đấu chống giặc thắng lợi, duy trì và phát triển phong trào cách mạng ở địa phương ngày một vững chắc.

Suốt 3 năm từ 1947 đến 1949, là những năm đầu kháng chiến gay go gian khổ nhất. Địa phương đồng chí Núp mất liên lạc với trên, nên gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng đồng chí Núp vẫn tin tưởng ở thắng lợi. Nắm vững phương châm "trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh", đồng chí Núp đã lãnh đạo nhân dân thay đổi chỗ ở năm lần. Đi đến khu rừng nào đồng chí cũng vận động nhân dân phát triển sản xuất bảo đảm đủ lương ăn, xây dựng làng chiến đấu, tổ chức du kích kiên quyết đánh giặc diệt được 80 tên.

Năm 1950, địch ra sức càn quét bình định, khủng bố vùng du kích Tây Nguyên rất gắt gao, đồng chí Núp vẫn kiên trì vận động dân làng ra sức rào làng chiến đấu sáng tạo nhiều cách đánh dùng chông mìn, cạm bẫy, tên nỏ diệt địch, bảo vệ nương rẫy và dân làng.

Đặc biệt trong trận đánh địch càn tháng 10 năm 1952, liên tục 7 ngày liền đồng chí chỉ huy trung đội du kích ngoan cường luồn rừng chiến đấu với cả trung đoàn địch, diệt nhiều tên, phá vỡ cuộc càn của chúng, bảo vệ được tài sản và tính mạng của nhân dân. Bản thân đồng chí đã gương mẫu về mọi mặt, đồng chí còn giáo dục xây dựng gia đình gương mẫu về sản xuất, tích cực tham gia canh gác, chiến đấu giữ làng, nuôi dưỡng cất giấu cán bộ, bài trừ mê tín dị đoan, đoàn kết với dân bản.

Núp hoàn toàn được dân làng và đồng đội mến yêu, tin cậy, xứng đáng là lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc cứu nước của đồng bào Tây Nguyên.

Núp đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, được Hồ Chủ tịch tặng một áo lụa và huy hiệu của Người.

Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Núp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 

IP IP Logged
 
Thao nhi 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 16 Aug 2010 
Đến từ: Vietnam 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 774 
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 13 Jan 2012 lúc 8:51pm
Anh hùng Lê Mã Lương
 
 

Trong bài thơ Gửi miền Nam của nhà thơ Tố Hữu có câu: “Đẹp biết mấy bài ca ra trận - Mỗi chàng trai, một Lê Mã Lương” để nói về ông. Năm 17 tuổi, anh đã từ chối ước mơ vào giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội và giấy báo du học nước ngoài để lên đường vào Nam đánh Mỹ. 18 tuổi anh bị thương lần đầu tiên, rất nặng, hỏng một mắt.

21 tuổi Trung uý Lê Mã Lương được tuyên dương Anh hùng quân đội; tháng 7/1968 anh được gặp Bác Hồ tại Quân y viện 108. Sau ngày miền Nam giải phóng, anh học tiếp khoa Sử ĐHTH Hà Nội mà năm xưa bỏ dở và làm luôn luận án tiến sĩ. Giữa năm 1998, anh có quyết định làm Giám đốc Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.

Anh hùng LLVTND (tiền thân là các danh hiệu Anh hùng quân đội và Anh hùng LLVT giải phóng miền Nam) là danh hiệu vinh dự cao nhất của nhà nước phong tặng cho đơn vị và phong tặng hay truy tặng cho cá nhân trong các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã lập được "thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân".

IP IP Logged
 
Thao nhi 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 16 Aug 2010 
Đến từ: Vietnam 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 774 
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 13 Jan 2012 lúc 8:54pm
Lê Thị Hồng Gấm (1951-1970)
 
 
 
 
 
Lê Thị Hồng Gấm (1951-1970), là anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, huân chương Quân công giải phóng hạng ba, sinh nǎm 1951, trong một gia đình nông dân lao động ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Mỹ Tho (nay thuộc Tiền Giang).

Ngay khi còn nhỏ, chị đã được nghe kể những tấm gương hy sinh anh dũng của những người con ưu tú quê hương Mỹ Tho. Tấm gương can đảm của những Thủ Khoa Huân, Trần Xuân Hoà đã tạo cho chị lòng yêu quê hương, căm thù quân xâm lược. Chị còn nghe kể về chiến công nghĩa quân Tây Sơn tại Rạch Gầm - Xoài Mút vào năm 1779.

Năm 16 tuổi, chị tham gia du kích, được Cách mạng phân công làm giao liên. Rất nhiều lần chị dũng cảm đưa cán bộ vượt qua vòng vây của kẻ thù. Có lần chị đã vượt sông đánh lạc hướng quân giặc, để cán bộ cách mạng thoát khỏi vòng vây.

Năm 18 tuổi, chị được phân công về làm xã đội phó xã nhà. Khi ấy, chị ở hầm bí mật, cứ đêm lại về từng gia đình vận động nhân dân. Quê hương giải phóng, chị cùng bà con tổ chức sản xuất.

Với những thành tích ấy, chị được kết nạp vào Đảng nhân dân cách mạng miền Nam, tức Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mùa xuân năm 1970, trên đường giao liên, chị đã bị máy bay địch bao vây phục kích, một mình Lê Thị Hồng Gấm với khẩu súng trên tay đã tiêu diệt nhiều tên địch và bắn rơi máy bay lên thẳng của chúng. 

Bị thương nặng, biết không qua khỏi, Gấm đã bắn đến viên đạn cuối cùng rồi gắng sức đập gãy nát khẩu súng để khỏi lọt vào tay địch. 
Lê Thị Hồng Gấm đã hy sinh trong trận đánh quyết liệt ấy. Chị được tặng danh hiệu Anh hùng giải phóng Miền Nam.

Sau cái chết của người anh hùng 19 tuổi, phong trào học tập chị được dấy lên. Ngay quê hương chị, một đơn vị vũ trang nữ được mang tên Lê Thị Hồng Gấm. Tinh thần hy sinh kiên cường của chị là nguồn sức mạnh tiếp thêm, tạo ra những chiến công của đơn vị.

Cảm động trước sự hy sinh anh dũng của Lê Thị Hồng Gấm, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm.

Sưu tầm

IP IP Logged
 
Thao nhi 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 16 Aug 2010 
Đến từ: Vietnam 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 774 
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 13 Jan 2012 lúc 8:57pm
Nguyễn Bá Ngọc (1952-1965)
 
 
 
 
 
Nguyễn Bá Ngọc (1952-1965) là học sinh lớp 4 b năm học 1964- 1965 tại xã Quảng Trung huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, vừa tròn 13 tuổi.

Năm 1964: Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, vừa cho máy bay leo thang đánh phá các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Máy bay ném bom vào cả trường học, bệnh viện. Nguyễn Bá Ngọc và các bạn phải đi học trong cảnh sơ tán dưới hầm, hào.

Ngày 4 tháng 4 năm 1965: máy bay Mỹ đã tới ném bom, bắn phá xã Quảng Trung. Hôm ấy là ngày chủ nhật, người lớn đã ra đồng làm việc chỉ còn các trẻ em ở nhà. Nghe tiếng máy bay, bố của Nguyễn Bá Ngọc vội vàng vác súng chạy đến địa điểm tổ săn máy bay. Phàn – anh của Ngọc là giao liên của xã đội cũng chạy ra vị trí chiến đấu. Trong khi đó, Ngọc cùng mẹ dẫn 5 em nhỏ xuống hầm trú ẩn.

Lúc ấy là khoảng 8 giờ 30 phút. Chính lúc ấy, bốn anh em Khương, Toanh, Oong, Đơ – con ông Khánh nhà hàng xóm đang quây quần quanh mâm cơm. Và bom đã rơi xuống bên cạnh nhà Ngọc. Ở dưới hầm, Ngọc nghe thấy có tiếng khóc to bên nhà Khương, Khương là bạn của Ngọc. Không chút ngần ngừ, Ngọc nhào lên, chạy sang nhà Khương thì thấy bạn của mình đã bị thương. Các em nhỏ của Khương là Toanh, Oong, Đơ đang kêu khóc. Ngọc vội vừa bế, vừa dìu hai em Oong, Đơ xuống hầm. Ngọc bò gần tới nơi trú ẩn thì giặc lại thả bom bi và em đã bị một viên bi bắn vào lưng rất hiểm. Cứu được hai em nhỏ rồi, Ngọc mới tái mặt, lả đi. Vết thương quá nặng, Ngọc đã hy sinh vào lúc 2 giờ sáng ngày 5-4-1965 ở bệnh viện.

Noi gương quên mình cứu em nhỏ, thiếu nhi cả nước ta đã học tập và làm theo Nguyễn Bá Ngọc. Ngay nay ấy và năm sau, đã xuất hiện: Trần Thị Miên, Trần Thị Vệ (Thanh Hóa), Trần Quốc Ý (Nghệ Tĩnh)… đã liên tiếp dũng cảm cứu bạn, cứu em nhỏ trong bom đạn của địch. Một số ngôi trường tiểu học đã lấy theo tên Nguyễn Bá Ngọc.

(Theo Thành đoàn TPHCM)
IP IP Logged
 
Thao nhi 
Senior Member 
Senior Member 
Ảnh đại diện 

Gia nhập: 16 Aug 2010 
Đến từ: Vietnam 
Trạng thái Online: Offline 
Bài viết: 774 
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 13 Jan 2012 lúc 8:59pm
Trần Văn Đang (1942-1965)
 
 
Trần Văn Đang (1942-1965) có bí danh là Sang, sinh năm 1942, ở xã Long Hồ - Châu Thành Tây - Vĩnh Long, nay là xã Long Phước, huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long.

Đội biệt động Sài Gòn đã đi vào sử sách của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy mưu trí và huyền thoại. Chiến công của các chiến sĩ biệt động thành là những trận đánh đầy tài trí và dũng cảm, thường có hiệu quả cao. Nếu chẳng may bị bắt, hy sinh, các chiến sĩ biệt động cũng để lại sự khâm phục với mọi người. Trần Văn Đang là một trong số các chiến sĩ biệt động – mà cái chết đã trở thành bất tử trong năm 1965.

Đang xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, mồ côi cha từ nhỏ, mấy mẹ con tần tảo nuôi nhau. Lớn lên, cảnh sống ở quê hương cùng cực, Đang phải lần bước lên Sài Gòn theo người chú kiếm sống qua ngày. Anh vào làm nghề phụ xe, rồi chuyển sang nghề thợ điện. Thời gian đầu mới bước vào nghề, Đang làm công cho một vài tiệm đồ điện ở Phú Nhuận, Gò Vấp rồi khi nghề nghiệp vững tay hơn, anh đi chữa điện dạo và sạc bình ắc quy.

Lúc chưa có gia đình, Đang thường tá túc trong nhà người chú ruột. Chú ruột anh là một đảng viên cộng sản hoạt động bí mật ở nội thành. Chính ông đã hướng dẫn Đang đi làm cách mạng và cũng chính ông đã đưa anh vào lực lượng vũ trang nội thành của đội biệt động Sài Gòn với bí danh là Sang. Lúc đó vào tháng 3/1964.

Qua một thời gian thử thách, học tập chính trị và quân sự tại căn cứ của đội ở Củ Chi, Trần Văn Đang được cấp trên giao nhiệm vụ đánh mìn Câu Lạc bộ sĩ quan Mỹ ở số 3 đường Võ Tánh, quận Tân Bình – Sài Gòn.

Tổ chức giao anh một chiếc xe gắn máy cùng 10 kg thuốc nổ TNT, phân công một người lái xe đưa anh đến điểm đánh mìn. Qua công tác điều nghiên nhiều ngày, Đang nắm được quy luật ra vào của bọn Mỹ ở “Câu lạc bộ sĩ quan”. Anh dự định dùng 10 kg thuốc nổ cực mạnh đó áp sát tường “Câu lạc bộ sĩ quan” phá tung cả khu nhà mà bọn sĩ quan và phi công Mỹ thường lui tới giải trí.

Điều không may cho Đang và tổ chức là tên lái chiếc xe chở anh đi đánh trận đó đã “chiêu hồi” mà anh vẫn chưa hay. Trước khi chở Trần Văn Đang đi, hắn đã mật báo cho cảnh sát ngụy quyền Sài Gòn về kế hoạch đánh mìn của Đang.

Khi chiếc xe dừng lại đến điểm trong kế hoạch tác chiến, anh đang lên dây đồng hồ báo nổ và cũng không quên gắn thêm một kíp nổ đề phòng đồng hồ trục trặc, thì bọn cảnh sát ập đến. Chúng bắt Trần Văn Đang ngay giữa trưa ngày 20/3/1965.

Chiều ngày 9/4/1965 trong một phiên tòa đặc biệt, Trần Văn Đang bị địch kết án tử hình.

Tại phòng giam của những người tử tù ở khám Chí Hòa, Đang đã sống những ngày đẹp nhất của cuộc đời người chiến sĩ biệt động thành. Anh được nhốt chung với Nguyễn Văn Hai tức Ba Thợ Mộc. Ba Thợ Mộc là một chiến sĩ biệt động thành đã tham gia trận đánh sứ quán Mỹ vào ngày 30/3/1963 và cũng bị Mỹ ngụy kết án tử hình. Hằng ngày Đang phải chăm sóc sức khỏe cho Ba Thợ Mộc do bị vết thương ở bụng chưa lành. Cùng chịu cảnh tử tù nhưng anh đã quên mình để chăm sóc cho bạn. Có thức ăn do mẹ đưa từ Vĩnh Long lên và do vợ con vào thăm Đang thường giành cho bạn để bạn chóng được lành vết thương.

Trong phòng biệt giam những người tử tù, Trần Văn Đang vẫn không nhận bất cứ một sự dụ dỗ nào của địch để khai báo tổ chức cho chúng, mặc dù anh biết ngày được sống sẽ không còn nhiều, vợ và 3 con anh còn vất vả, gieo neo khi anh hy sinh. Anh vẫn bình tĩnh, thản nhiên và không để lộ bất cứ một bí mật nào của đội biệt động cho bọn địch.

Đúng 5 giờ 30 ngày 22/6/1965, bọn gác ngục đưa Trần Văn Đang ra pháp trường. Dù biết cái chết đang gần kề từng phút anh vẫn không tỏ một thái độ nào run sợ. Từ phòng tử tù trên trên lầu xuống tầng trệt, anh ôm theo mọi đồ dùng cá nhân và ung dung đi ra pháp trường trong tư thế của người chiến thắng.

Địch đưa bữa cơm cuối cùng của người tử tù, anh từ chối, chỉ xin một bình trà nhỏ. Rồi thay áo quần sạch sẽ, anh ngồi uống trà hút thuốc, tóc chảy gọn gàng, đỉnh đạc trước khi địch thi hành lệnh xử bắn. Đồng bào Sài Gòn tập trung xung quanh khu vực chợ Bến Thành hôm đó hết sức xúc động và thán phục một chiến sĩ biệt động thành còn quá trẻ, đi đến pháp trường với một tư thế hiên ngang, không biểu lộ một chút hoang mang sợ hãi.

Khi toán cảnh sát đẩy anh đến trước cọc xử bắn, Trần Văn Đang la lớn: “Phải để tôi thấy đồng bào tôi”. Anh giằng co với bọn cảnh sát và yêu cầu được nói chuyện với đồng bào tập trung xung quanh trường bắn. Chúng không đáp ứng yêu cầu của anh. Anh không chịu bịt mắt và hô lớn “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chủ Tịch muôn năm”, “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chủ Tịch muôn năm”.

Bọn Mỹ ngụy sợ anh làm tác động đến đồng bào Sài Gòn Chợ Lớn ngày hôm đó nên chúng đã vội vã thi hành án tử hình ngay tức khắc, lúc đó là 5 giờ 50’ ngày 22/6/1965.

Cùng với Nguyễn Văn Trỗi, cái chết của chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn Trần Văn Đang đã thức tỉnh hàng triệu người yêu nước dấy lên phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy ngày càng mạnh mẽ, liên tục trên toàn miền Nam. Sự hy sinh của liệt sĩ Trần Văn Đang và thái độ anh dũng hiên ngang trước kẻ thù của anh đã tác động đến hàng triệu trái tim thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bác Hồ, lúc còn sống trong thư gởi thế hệ trẻ cả nước tháng 10/1966 đã động viên thanh niên cả nước học tập gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi và Trần Văn Đang.

Sau ngày đất nước th


Nhắn tin cho tác giả
Phạm Huy Tâm @ 22:54 26/04/2017
Số lượt xem: 115
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến