Gốc > Trang văn học lịch sử địa lý trong và ngoài nước,Câu đố,trò chơi! > Lịch sử Việt Nam! > Sau 1945 > Nhân vật lịch sử >

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRỖI (LIỆT SĨ)

Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 17 tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thành phố Sài Gòn, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

   Nguyễn Văn Trỗi là công nhân thợ điện Sài Gòn. Sống giữa xã hội bất công thối nát của Mỹ - ngụy, hàng ngày chứng kiến những hành động tội ác của bọn tay sai bán nước và bộ mặt đểu cáng của giặc Mỹ xâm lược, anh nung nấu mối căm thù chúng. Nguyễn Văn Trỗi đã tìm đến cách mạng và được giáo dục giác ngộ. Sau đó anh tình nguyện gia nhập đội biệt động 65, Quân khu Sài Gòn - Gia Định.

   Là một thanh niên giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, một chiến sĩ vũ trang gan dạ, Nguyễn Văn Trỗi luôn hăng hái thực hiện mọi công tác của đội biệt động giao cho, vừa hoạt động, vừa tích cực vận động giác ngộ bạn bè tham gia công tác cách mạng.

   Tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức giao nhiệm vụ giết tên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Mác-na-ma-ra, một tên trùm tội ác chiến tranh. Đây là trận đánh mang ý nghĩa chính trị rất lớn. Lợi dụng thế hợp pháp là công nhân, vừa đi làm Nguyễn Văn Trỗi vừa nghiên cứu quy luật đi về của tên bộ trưởng chiến tranh Mỹ, suy nghĩ tím cách đánh phù hợp nhất. Theo kế hoạch chỉ đạo của trên, ngày 9 tháng 5 năm 1964, đồng chỉ thực hiện trận đánh bằng cách dùng mìn điểm hỏa bằng điện đặt ở cầu Công Lý, đón tên Mác-na-ma-ra trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh chưa thực hiện được thì bị lộ và anh bị bắt.

  Địch giam Nguyễn Văn Trỗi ở khám Chí Hòa và mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man vẫn không khuất phục được anh. Trong những ngày bị giam cầm Nguyễn Vàn Trỗi đã đấu tranh quyết liệt với địch bâng mọi lý lẽ và ý chí bất khuất, khiến bọn chúng tức tối và kính nể. Khí phách anh hùng của anh đã cổ vũ anh em trong tù tăng thêm nghị lực đấu tranh.

   Sau 4 tháng giam giữ không làm chuyển được tấm lòng kiên trinh của Nguyên Văn Trỗi, chính quyền Nguyễn Khánh đã kết án tử hình anh. Trong những ngày còn lại của đời mình, Nguyễn Văn Trỗi vẫn lạc quan, tin tưởng và tiếp tục đấu tranh với địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, chứng đã hèn hạ giết Nguyễn Văn Trỗi.

    9 phút cuối cùng ở pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang vạch tội quân bán nước và cướp nước, khẳng định việc làm chính đáng của mình, khẳng định cách mạng Việt Nam nhất định thắng lợi. Đồng chí dõng dạc hô to 3 lần: “Hồ Chí Minh muôn năm.” Khi bị trúng đạn ngã xuống Nguyễn Văn Trỗi cố gượng dậy hô: Việt Nam muôn năm!

    Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm xúc động dư luận trong nước và thế giới.

     Trong phiên họp bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định tặng danh hiệu Anh hùng và Huân chương Thành đồng hạng nhất cho liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.




ANH HÙNG NGUYỄN VĂN ĐỪNG
(LIỆT SĨ)

   Nguyễn Văn Đừng sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở ấp 1, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp nhập ngũ ngày 5 tháng 9 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261A (tiểu đoàn ghi rông) đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Văn Đừng đã tham dự hơn 30 trận chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, có tác phong chiến đấu rất mưu trí, linh hoạt, khi tiến công thì mãnh liệt chớp nhoáng, khi bám trụ thì gan góc kiên cường, có ý thức chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh một cách kiên quyết, triệt để, được cấp trên tin cậy, thường giao nhiệm vụ quan trọng đột xuất trong những tình huống đặc biệt, được đồng đội yêu mến.

   Nguyễn Văn Đừng là tiểu đội trưởng của “tiểu đội gang thép” ở Ấp Bắc.

   Trong trận đánh vận động ở Thủ Thừa, 1 tiểu đoàn địch lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu và trinh sát của ta đã nổ súng đánh địch, nhưng chưa có lệnh của cấp trên, Nguyễn Văn Đừng vẫn kiên trì nằm phục, mặc cho địch vào cách 15 mét rồi 10 mét, khi có lệnh mới bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân địch. Trận đánh diễn biến gay go, bọn địch triển khai chiếm địa hình có lợi chống trả lại ta rất quyết liệt. Được lệnh, đồng chí đã dũng cảm vác trung liên vượt qua bãi trống dưới làn đạn địch, thọc vào giữa đội hình của chúng, tạo thời cơ thuận lợi cho đợn vị xung phong, đánh bại tiểu đoàn “Cọp đen” nổi tiếng ác ôn.

   Trong trận đánh địch ở Gò Công, đơn vị bố trí phục kích diệt một toán quân địch. Tình huống diễn biến không như dự kiến. Quân địch hành quân hướng khác, chỉ chạm phải khúc đuôi của trận địa ta. Hai bên nổ súng chiến đấu quyết liệt. Đại bộ phận quân ta vẫn giữ được bí mật trận địa. Đại đội trưởng lệnh cho tiểu đội Nguyễn Văn Đừng bí mật vận động lên, đánh tạt sườn quân địch. Đồng chí vác trung liên dẫn đầu tiểu đội cơ động, bất ngờ đột kích mãnh liệt vào bên sườn trái, hất quân địch vào thế trận của ta. Bị đòn bất ngờ, toàn bộ đội hình quân địch rối loạn trước sức tiến công dồn dập của cả đơn vị. Kết thúc trận đánh, ta diệt 145 tên, thu nhiều súng các loại.

   Trong trận Ấp Bắc lịch sử, tiểu đội của Nguyễn Văn Đừng nhận nhiệm vụ hướng phòng ngự chủ yếu. Sau khi đã vận động ra tiêu diệt một cánh quân địch đổ bộ, trở về trận địa, đồng chí động viên anh em: “Dù ác liệt thế nào, cũng kiên quyết giữ vững trận địa, tiêu diệt địch đến cùng...”.

   Bọn địch lại tổ chức những đợt tiến công mới chúng liên tục cho phi pháo và xe M.113 đánh vào trước mặt, rồi cho máy bay lên thẳng đổ quân xuống sau lưng trận địa ta. Địch 5 lần phối hợp xung phong vào, nhưng đều bị tiểu đội của đồng chí đánh bật ra. Cho đến chiều tối,
cả tiểu đội chỉ còn lại 3 người: đồng chí và 2 chiến sĩ nữa. Địch lại tổ chức xe M.113 kết hợp với bộ binh tiến công lên. Đồng chí phân công 2 chiến sĩ tập trung diệt bộ binh, còn đồng chí chuẩn bị lựu đạn đánh xe. Chờ cho chiếc M.113 đi đầu tiến sát tới bờ hào, đồng chí nhảy vọt lên, ném thủ pháo. Chiếc xe đi đầu bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc đi sau vội lủi lại, vừa bắn xối xả vào chỗ đồng chí, vừa tháo lui. Tuy đã bị thương nặng, Nguyễn Văn Đừng vẫn gọi 2 chiến sĩ lại, dặn thêm một lần nữa: Quyết giữ vững trận địa... Đồng chí đã hy sinh ngay trên mép chiến hào, bên xác chiếc M.113 còn đang bốc cháy.

   Trong chiến tháng Ấp Bâc, riêng tiểu đội đồng chí đã diệt 3 xe M.113, bắn bị thương 1 chiếc khác, cùng đơn vị bắn rơi 5 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 9 chiếc, diệt 470 tên địch. Nhân dân Ấp Bắc đã tặng tiểu đội đồng chí danh hiệu “Tiểu đội gang thép!”.

  Nguyễn Văn Đừng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Đừng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
 
   Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3672



« Trả lời #1 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2012, 11:04:15 AM »
 

ANH HÙNG VÕ NHƯ HƯNG
(LIỆT SĨ)


  Võ Như Hưng (tức Võ Như Trích) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929, dân tộc Kinh quê ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 5 tháng 5 năm 1952. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ đội đặc công tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, gia đình lại là cơ sở tốt của ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được cách mạng giáo dục, Võ Như Hưng sớm giác ngộ, nhiều lần đã tình nguyện tòng quân, nhưng vì vóc người nhỏ bé nên không trúng tuyển. Mãi tới năm 1952, đồng chí mới được nhận vào bộ đội, làm chiến sĩ của trung đoàn 303, đã cùng đồng đội chiến đấu trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên... và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí tập kết ra Bắc, đến năm 1960, lại tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Võ Như Hưng là một trong những dũng sĩ xuất sầc nhất trong 7 dũng sĩ Điện Ngọc.

   Cuối năm 1960, trong trận đánh bốt 6 (vùng Điện Bàn), trước giờ xuất phát mặc dù vừa mới qua cơn sốt nặng, được cấp trên cho nghỉ, nhưng Võ Như Hưng vẫn kiên quyết xin đi bằng được. Giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến khẩn trương, đồng chí bị một mảnh pháo phạt ngang làm gãy xương tay trái, nhưng vẫn nén đau cùng đồng đội anh dũng tiêu diệt địch cho tới lúc ta làm chủ hoàn toàn trận địa.

   Năm 1961, trong trận đánh Nam Thành - một trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở Hòa Cam, cách sân bay Đà Nẵng chừng 500 mét, địch bố phòng rất cẩn mật - đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách mũi tiến công chủ yếu.Vừa bước vào chiến đấu, vì nghe nhầm lệnh, đại bộ phận quân ta đều rút ra, riêng mũi của Võ Như Hưng do nhận lệnh đúng, vẫn xông thẳng vào trung tâm, diệt sở chỉ huy bọn cố vấn Mỹ. Giải quyết xong mục tiêu, biết tin cả đơn vị đã lui quân, đồng chí bình tĩnh xử trí, tổ chức cho anh em yểm hộ nhau rút từng bộ phận, dù ít người, vẫn thu 12 súng và dẫn 9 tù binh về đơn vị an toàn.

   Ngày 26 tháng 4 năm 1962, tiểu đội của Võ Như Hưng nhận nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch quấy phá, hỗ trợ cho đợt “phá ấp chiến lược, giải phóng thêm dân, thêm đất” do tỉnh phát động. Tiểu đội đã đi suốt từ vùng Ông Nổi, qua đồn Gò Đá, tới Quảng Lăng, Quảng Hậu, thôn 4 Điện Bàn, về đến Cẩm Sa thì bị 1 tiểu đoàn địch bao vây; và trận đánh nổi tiếng của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc" quanh chiếc giếng cạn đã diễn ra ở đây. Các chiến sĩ thề với nhau: “Quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều địch, không chịu để rơi vào tay giặc". Suốt một ngày trời, cả tiểu đoàn địch mở hàng chục đợt xung phong, nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra. Cuộc chiến đấu rất không cân sức này càng về chiều càng hết sức gay go quvết liệt. Nhiều lần địch liều chết ùa tới gần, tung lựu đạn xuống lòng giếng; anh em liền chộp lấy, ném trả lại. Tuy nhiên, cũng có quả nổ ngay trong giếng, làm một số hy sinh và hầu hết cả tiểu đội đều đã bị thương.

   Trời tối dần, 4 chiến sĩ còn lại quyết mở đường máu, vượt vòng vây. Sau một đợt tập trung lực lượng, tổ chức xung phong mãnh liệt, bất ngờ, các đồng chí đã rút ra an toàn. Đi được một đoạn, kiểm tra lại thấy còn thiếu một chiến sĩ bị thương nặng không theo kịp đồng đội, đồng chí quyết định quay lại tìm bằng được và dìu bạn vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hiểm nguy, ngày ẩn nấp, đêm lại tiếp tục đi, đưa đồng đội vượt vành đai giặc về đơn vị an toàn.

   Trong trận chống càn ngày 20 tháng 12 năm 1963, khi 2 đại đội địch đã lọt vào trận địa ta, Võ Như Hưng cho nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt, tán loạn. Quân ta lập tức xung phong, truy kích đến cùng. Trên đường đuổi giặc Võ Như Hưng bị thương nặng ở bụng, đạn xuyên từ phải qua trái, làm đứt nhiều khúc ruột. Mặc dù được đưa đi bệnh viện kịp thời, và đã được tận tình cứu chữa, song vết thương quá nặng, không thể nào cứu nổi. Trên giường bệnh, tới giây phút cuối cùng, đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng không hề rên la, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ và thắng lợi của cách mạng.

   Võ Như Hưng là một cán bộ gương mẫu trong chiến đấu củng như trong học tập và công tác; sống thẳng thắn, trung thực, thật thà, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người mến phục, tin yêu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, đồng chí Võ Như Hưng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN VIẾT KHÁI
(LIỆT SĨ)



  Nguyễn Viết Khái (tức Nguyễn Văn Huôi) sinh năm 1940 dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hương Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 12 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó trung đội 3, đại đội Quyết Thắng, tiểu đoàn U Minh 2, tỉnh Cà Mau, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

  Năm 1954, Nguyễn Viết Khái làm liên lạc của xã. sau chuyển sang công tác thanh niên, tới năm 1961 chính thức gia nhập du kích, làm ấp đội trưởng, sang năm 1962 được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ lực lượng du kích của xã.

   Suốt quá trình hoạt động, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, bị địch hăm dọa nhiều lần, Nguyễn Viết Khái vẫn luôn luôn vững vàng, trung thành với Đảng, với cách mạng, tích cực xây dựng phong trào, xây dựng cơ sở. Đặc biệt trong chiến đấu, đồng chí rất bình tĩnh, gan dạ, lập nhiều chiến công xuất sắc, đã tham gia trên 50 trận đánh với "nhiều cách đánh linh hoạt, táo bạo, diệt hàng trăm địch, bắn rơi 4 máv bay lên thẳng, là một trong số những dũng sĩ diệt Mỹ đầu tiên tham gia đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của địch ở vùng này.

   Năm 1962, bọn địch ở chi khu Bình Hưng tập trung 600 quân, chia làm 3 cánh, càn vào vùng giải phóng Tân Hưng Tây, định bất ngờ đánh úp cơ quan chỉ huy xã, diệt lực lượng du kích, cướp của cải của nhân dân rồi lùa dân vào ấp chiến lược. Trước tình thế bất ngờ đó, Nguyễn Viết Khái đã chỉ huy một tổ chiến đấu chặn đánh ghìm chân địch suốt từ nửa đêm hôm trước đến hết ngày hôm sau, bảo vệ cho cán bộ rút ra ngoài an toàn, vì bị thiệt hại nặng, địch đã buộc phải rút quân bỏ dở cuộc càn.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1962, địch dùng 40 máy bay các loại bất ngờ đổ quân xuống nhiều địa điểm hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng du kích. Đồng chí dẫn đầu một tổ chiến đấu luồn lách khắp nơi, tìm cách đánh địch. Trong lúc đang thi hành nhiệm vụ, vì bị địch phát hiện tổ chiến đấu Nguyễn Viết Khái sa vào vòng vây của chúng. Lực lượng quá chênh lệch (1 đánh với 100), song các đồng chí cơ động chiến đấu rất linh hoạt, địch không làm gì được, càng đánh kéo dài, địch càng bị tiêu hao lực lượng, cả 5 lần địch tổ chức xung phong đều thất bại, chúng phải lủi ra xa, gọi máy bay đến ném bom và xin chi viện thêm quân. Sau 1 giờ bắn phá và ném bom dũ dội, một đoàn máy bay lên thẳng ào tới, đổ quân. Bằng 8 phát đạn tiểu liên, đồng chí đã bắn trúng 4 chiếc, 2 chiếc bốc cháy tại chỗ, 2 chiếc kia cố bay ra tới kênh 5 và khu vực Ông Xe thì rơi nốt. Hơn 60 tên địch trong 4 chiếc máy bay đều tan xác. Số máy bay lên thẳng còn lại hốt hoảng bay lên cao rồi cút thẳng.

   Sau chiến thắng này, đồng chí được quân khu cử đi học, rồi về phụ trách trung đội phó ở đại đội Quyết Thắng bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau. Trong lần tiến công đồn Văn Cái Tây (tháng 10 năm 1963) giữa lúc trận đánh đang gay go thì trung đội trưởng hy sinh. Đồng chí đang phụ trách lực lượng dự bị ở bên ngoài, nghe tin đó, liền vào tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu và dẫn đầu đội hình đơn vị xung phong vào trung tâm đồn địch. Trận đánh sắp kết thúc thì đồng chí bị trúng đạn và đã anh dũng hy sinh.

   Nguyễn Viết Khái là một cán bộ gương mẫu về mọi mặt, chiến đấu anh dũng, có hiệu suất cao, sống khiêm tốn, giản dị, trung thực, thật thà, được cấp trên tin cậy, đồng đội và nhân dân quý mến, tin yêu.

  Đồng chí đã được thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh và quân khu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Viết Khái được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
 
   Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3672



« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2012, 11:07:18 AM »
 

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TƯ
(LIỆT SĨ)

   Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia du kích từ tháng 1 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó du kích của xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Đồng chí đã tham gia chiến đấu chống càn, bao vây quấy rối đồn bốt địch hơn 200 trận (riêng năm 1963 đánh 64 trận), diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bát sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng, đạn, máy thông tin.

   Là chiến sĩ.du kích hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, xung quanh nhan nhản những đồn bốt địch, lực lượng vủ trang của ta ít, súng đạn thiếu Nguyễn Văn Tư đã dũng cảm, mưu trí, phát huy cách đánh độc lập, nhỏ lẻ. Với vũ khí thô sơ, chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn... lúc thì bí mật phục bắt, diệt những tên lính, ác ôn đi lẻ, lúc thì bố trí bãi chông mìn chặn địch càn vào xã, nhiều lần đồng chí đã bò vào bốt địch quấy rối, bắn trả tiêu hao dần lực lượng chúng, đặc biệt đã sáng tạo ra cách đánh bằng ong vò vẽ.

   Tháng 8 năm 1962, do nắm được những toán địch thường hay đi lẻ vào xóm dọa nạt, cướp bóc tài sản của đồng bào, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật vào nằm phục sát đồn địch, đợi lúc lực lượng địch rời khỏi đồn, liền tranh thủ cơ hội thuận tiện xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn.

   Tháng 6 năm 1963, lần đầu có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư nghĩ ra cách đánh rất sáng tạo và mưu trí: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên, rồi làm như sơ ý rải dây chưa thật kín để nhử địch. Sáng hôm sau, địch đi tuần tra phát hiện ra dấu vết, liền đào gỡ mìn để mang về lĩnh thưởng, nhưng khi kéo quả mìn giả lên, lựu đạn ở dưới nổ tung 1 tên địch chết ngay tại trận và 3 tên khác bị thương nặng... Hoạt động ở hậu địch, vũ khí của du kích thường rất hiếm, nhất là lựu đạn, đồng chí tổ chức chỉ huy anh em bò vào đồn bốt địch tháo gỡ lựu đạn chúng gài ở hàng rào về, dùng lựu đạn của địch giết địch.

   Đồng chí còn nghĩ ra cách dùng ong vò vẽ để đánh địch. Lần đầu chưa có kinh nghiệm, Nguyễn Văn Tư bị ong đốt sưng cả mặt, nhưng thấy cách đánh có hiệu quả, đồng chí đã kiên trì vừa làm vừa rút kinh nghiệm cải tiến cách bố trí xen kẽ chông mìn, cạm bẫy với hệ thống các tổ ong để tiếp tục đánh địch. Sau 30 trận sử dụng ong vò vẽ, tính ra đồng chí đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch khiến chúng hoang mang lo sợ, không còn dám ngông nghênh ra ngoài bốt đi càn và cướp như trước nứa.

   Ngoài nhiệm vụ chỉ huy và trực tiếp chiến đấu, Nguyễn Văn Tư còn tích cực tuyên truyền vận động bà con đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng, và tham gia chế tạo vú khí, vót chông, làm bẫy, rào làng chiến đấu để ngăn chặn địch. Trong trận chiến đấu ngày 26 tháng 10 năm 1964, không may Nguyễn Văn Tư bị địch bắn gãy một chân và bị chúng bắt. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, đồng chí vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, không để lộ bí mật, dũng cảm bảo vệ đồng bào, đổng chí đến hơi thở cuối cùng.

  Nguyễn Văn Tư đã luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, học tập và lao động sản xuất, chú ý xây dựng và phát triển đội du kích vửng mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.

   Hai năm liền (1963-1964) đồng chỉ ìà Chiến sĩ thi đua của Quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Tư được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG MAI THANH THẾ
(LIỆT SĨ)

   Mai Thanh Thế (tức Hồng Kiên), sinh năm 1941 dãn tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị , tỉnh Sóc Trăng, nhập ngũ tháng 6 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống yêu nước (bố, mẹ, anh, em đều tham gia công tác kháng chiến) được gia đình giáo dục và cán bộ dìu dắt, Mai Thanh Thế sớm giác ngộ, tham gia công tác cách mạng từ nhỏ, là một cậu bé liên lạc gan dạ, có nhiều mưu mẹo, sáng kiến.

   Từ ngày nhập ngũ Mai Thanh Thế luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ có tinh thần dũng cảm ngoan cường, thường xung phong đi đầu trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sâc mọi nhiệm vụ. Bị thương nhiều lần, đồng chí vẫn không rời trận địa, khi bị thương cụt cả hai tay, vẫn tiếp tục động viên, cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt quân thù.

   Trong trận quấy rối đồn Cầu Trâu năm 1961, lúc rút ra, 1 chiến sĩ trong tổ bỏ quên chiếc mã tấu trong hàng rào, Mai Thanh Thế xin ban chỉ huy cho quay lại lấy. Đồng chí nói: “Đất nước ta còn nghèo, trang bị của quân đội ta còn rất thiếu thốn, vũ khí của Đảng, của nhân dân giao cho, mình bỏ lại là có khuyết điểm lớn, gây thành tác phong xấu trong đơn vị”. Đồng chí bò vào, lấy bằng được, mặc dù lúc đó đạn địch trong đồn đang bắn ra rất dữ.

   Tháng 8 năm 1962, trong một trận đánh đồn, khi hết cả thủ pháo, lựu đạn để mở cửa, Mai Thanh Thế đã kiên quyết dùng mã tấu xông lên chặt hàng rào, dưới hỏa lực dày đặc của địch, mở đường cho bộ đội xung phong.

   Đồn Văn Tiến là nơi địch bố phòng kiên cố, ngoài 4 lớp rào kẽm gai, xen lẫn với mìn, chúng còn đào mương, thả chó, và thắp đèn điện sáng rực suốt đêm. Đồng chí vẫn quyết tâm tìm mọi cách lọt vào điều tra nẳm vững tình hình địch và địa hình, rồi dẫn đường đưa đơn vị vào đánh nhanh, diệt gọn.

   Ngày 28 tháng 7 năm 1962, đơn vị đi đánh đồn Cầu Trâu (một đồn khét tiếng gian ác đã gây nhiều nợ máu ở vùng này), tổ đồng chí được giao đảm nhiệm múi chủ yếu. Mai Thanh Thế đã thề dưới cờ Đảng: “Quyết diệt sạch lũ giặc trong đồn, trả thù cho đồng bào, đồng chí, dù có phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ...” Trận đánh rất ác liệt, gặp khó khăn ngay từ đầu. Vừa vượt qua cửa mở, đồng chí đã bị thương, vào ngực. Khi xung phong, tay trái lại bị mảnh lựu đạn phạt gãy. Không do dự, Mai Thanh Thế nhờ bạn cắt hẳn cho khỏi vướng, băng tạm rồi dẫn tổ mũi nhọn của mình tiếp tục xông lên. Địch vẫn điên cuồng chống cự. Một quả lựu đạn nữa nổ gần, văng mảnh vào trán và cắt gãy nốt cánh tay phải của đồng chí. Ban chỉ huy cho ngay 2 chiến sĩ cáng đồng chí ra ngoài, song đồng chí nhất định không nghe:

   - Nhiệm vụ của tổ tôi chưa hoàn thành, nhất định tôi không rời trận địa, xin cứ cho tôi ở đây với anh em!...

   Và đồng chí tiếp tục vừa quan sát địch, vừa động viên đồng đội chiến đấu tới phút cuối cùng...

   Mai Thanh Thế đã nêu cao tấm gương hy sinh dũng cảm, sống oanh liệt, chết vẻ vang, giữ vững quyết tâm chiến đấu đến cùng, ơ đồng chí, luôn luôn thể hiện tinh thần đoàn kết lập công tập thể và tình thương yêu đồng đội sâu sắc, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Mai Thanh Thế được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
 
   Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3672



« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2012, 11:11:49 AM »
 

ANH HÙNG TRỪ VĂN THỐ
(LIỆT SĨ)

   Trừ Văn Thố sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xâ Thanh Hòa, quận Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, vào du kích tháng 10 năm 1961, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ trinh sát đặc công, đơn vị Q.272.(sau này là trung đoàn 2 - sư đoàn 9).

   Thời gian ở du kích cũng như khi chuyển sang đơn vị chủ lực, dù nhận bất cứ nhiệm vụ gì Trừ Văn Thố luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, có quyết tâm cao trong học tập, bình tĩnh, vững vàng trong mọi tình huống ác liệt, khó khăn, đã lấv thân mình lấp lỗ châu mai, dập tắt hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xung phong giành thắng lợi hoàn toàn cho trận đánh.

   Năm 1961, trong một trận đánh địch càn vào xã, đồng chí bị thương ở ngực, vẫn bám trận địa chiến đấu, cổ vũ đồng đội kiên cường chặn địch, buộc chúng phải lui quân.

   Năm 1962 đơn vị Trừ Văn Thố hoạt động ở chiến khu Đ gian khổ, bị địch truy quét thường xuyên, ác liệt, đồng chí vẫn vững vàng bám trụ, nắm tình hình địch chính xác, kịp thời giúp cấp trên tổ chức nhiều trận đánh thắng lợi.

   Tháng 4 năm 1963, đồng chí được cử đi học trinh sát, rồi về bổ sung vào đơn vị đặc công Q.272.

   Trong trận đánh bốt Cây Trường (ngày 18 tháng 10 năm 1963), đồng chí đã lập chiến công xuất sắc. Cây Trường là một vị trí án ngữ đường số 13 và khu tam giác Dinh Điền - Cẩm Xe - Văn Hữu. Đó cũng là nơi tập kết để bọn biệt kích, ác ôn xuất phát đi đánh phá chiến khu Long Xuyên, vì vậy, bọn địch bố trí phòng thủ bảo vệ rất chặt chẽ. Hàng tháng ròng, Trừ Văn Thố len lỏi vào vị trí nắm địch tình, giúp trên hạ quyết tâm chiến đấu chính xác. Ngày nổ súng, đồng chí được giao nhiệm vụ cùng tổ đánh khu cố thủ (trên lô cốt cố thủ còn có pháo đài cao 7 mét) ở hướng chủ yếu. Do giữ được bí mật bất ngờ, nên ngay loạt tiếng nổ đầu tiên, quân ta đã đánh sập luôn lô cốt B, C mở xong hàng rào tiền duyên và bắn vỡ pháo đài. Nhưng từ lô cốt A (khu cố thủ), hỏa lực địch vấn quét mạnh cản đường. Nhiều chiến sĩ ở hướng chủ yếu, trong đó có hai tổ viên của tổ đồng chí đã bị thương và hy sinh. Căm thù sôi sục nhưng vẫn hết sức bình tĩnh Trừ Văn Thố quan sát đường tiến rồi ôm bộc phá trườn lên. Một loạt trung liên từ lỗ châu mai bắn ra, đạn xuyên qua đùi, làm đồng chí tê dại cả một bên chân. Đồng chí nghiến răng chịu đau, lê lên đặt bộc phá áp sát vào lô cốt. Một cột lửa bùng lên, tiếp theo một tiếng nổ dậy đất. Lô cốt địch lặng đi vài giây rồi hỏa lực từ lỗ châu mai lại tiếp tục phụt ra. Trừ Văn Thố rút 2 trái thủ pháo ném tiếp vào lỗ châu mai địch, nhưng hỏa điểm vẫn chưa bị dập tắt. Đội hình tiến quân của ta ùn lại, đồng đội tiếp tục bị thương vong. “Bằng giá nào cũng phải diệt được lô cốt địch, mở đường cho xung kích tiến lên”. Chăm chú nhìn lô cốt địch, mắt nảy lửa hờn căm, chợt nhớ đến gương Phan Đình Giót, đồng chí thấy lúc này chính là lúc phải hy sinh dũng cảm, hành động như người anh hùng Điện Biên Phủ năm xưa. Trừ Văn Thố nén đau, ráng sức toài dần lên, rồi bất ngờ bật dậy, lao người vảo lỗ châu mai, dùng thân mình bịt kín họng súng liên thanh của địch, tạo thời cơ cho đồng đội ào ạt xung phong.

   Gương hy sinh dũng cảm, xả thân vì nhiệm vụ của Trừ Văn Thố đã góp phần cống hiến xuất sắc cho trận đánh thắng lợi.

   Khi còn sống, Trừ Văn Thố là một chiến sĩ hiền lành, chất phác, sống giản dị, khiêm tốn, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người tin cậy, mến yêu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Trừ Văn Thố được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGÔ MINH TRỊ
(LIỆT SĨ)



   Ngô Minh Trị (tức Ba Bảy) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé nhập ngũ năm 1957. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó đơn vị đặc công 60, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

  Gia đình đồng chí rất nghèo, vừa làm ruộng thuê, vừa đi làm ở sở cạo mủ cao su để sinh sống. Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Minh Trị được nuôi dưỡng và lớn lên trong vùng căn cứ kháng chiến cũ của ta, do đó sớm có lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc sâu sắc.

  Năm 1954, sau ngày ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ Ngô Minh Trị làm công tác ở Đoàn thanh niên xã, rồi được giới thiệu vào lực lượng vũ trang huyện, năm 1957, được chọn vào đơn vị đặc công 60. Đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh lớn, lập công xuất sắc.

   Năm 1957, trong trận đánh tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch khi chúng định phá rừng, mở đường quân sự ở Sông Bé - Mã Đà, Ngô Minh Trị tỏ ra rất dũng cảm, gan dạ, quyết tâm vượt qua mọi gian khổ khó khăn, thực hiện bằng được nhiệm vụ. Trong trận tập kích đồn Minh Thạnh - Bình Long, đồng chí đã góp phần diệt và làm tan rã hơn 2 đại đội địch. Trong trận đánh quận lỵ Dầu Tiếng (tháng 8 năm 1958) Ngô Minh Trị là tổ trưởng tổ thọc sâu đánh vào khu vực sở chỉ huy của địch, đã cùng với anh em hoàn thành xuất sâc nhiệm vụ, góp phần cùng đơn vị diệt và làm tan rã 5 đại đội địch, thu trên 200 súng các loại...

   Trong trận đánh vào cứ điểm sư đoàn 21 ngụy ở Tua Hai (Tây Ninh) ngày 5 tháng 1 năm 1960, Ngô Minh Trị được chọn vào tổ mũi nhọn, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn địch, phát tiếng nổ đầu tiên làm hiệu lệnh cho toàn đơn vị tiến công. Giữa lúc các mũi, hướng còn đang luồn sâu cách bờ thành khoảng 200 mét, địch “đánh hơi” thấy. Chúng liền thổi kèn báo động tất cả 5 tiểu đoàn, đồng thời điều một đoàn xe chở một trung đoàn từ Tây Ninh xuống ứng cứu. Nhận được lệnh cấp trên cho nổ súng chiến đấu, tổ của đồng chí (lúc này đã vượt qua hàng rào, vào trong bờ thành và qua một con mương sâu 1,5 mét, rộng 3 mét) lập tức xung phong, sở chỉ huy sư đoàn 21 ngụy chỉ còn cách 400 mét, nhưng trước mặt là 2 tiểu đoàn địch đang bố trí dày đặc. Phát hiện quân ta, chúng bắn chặn mãnh liệt. Tổ có 3 người, thì 1 đã hy sinh, 2 người còn lại đều đã bị thương cả. Bằng bất cứ giá nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ, nghĩ vậy Ngô Minh Trị nén đau đớn, ôm trái phá tiếp tục trườn lên. Địch thấy có một mình Ngô Minh Trị liền xô lại định bắt sống. Ngô Minh Trị miệng hô xung phong, tay chuẩn bị rút kíp nổ, xông thẳng vào giữa đội hình địch. Chúng hốt hoảng sợ chết vội tản rộng ra xung quanh. Lợi dụng khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, đồng chí vọt thẳng vào khu sở chỉ huy địch, tung trái nổ, phát lệnh cho toàn trận đánh. Hai con chó béc-giê nhảy lại cào cấu, Ngô Minh Trị ném lựu đạn hơi đánh cho chó giạt ra, rồi lại xông lên, ném tiếp trái nổ thứ hai. Trong khói đạn mịt mù, đồng chí xông xáo chiến đấu hết sức dũng cảm, đoạt súng giặc giết giặc, cho tới khi bị thương lần thứ ba, thủng bụng Ngô Minh Trị vẫn không rời tay súng.

   Ngô Minh Trị hy sinh, nhưng đã góp phần tích cực để trận đánh tháng lợi giòn giã. Quân ta đã diệt 800 tên địch, bắn bị thương 700, bắt sống 500, thu 1.540 súng các loại. Trận đánh gây chấn động rất mạnh trong quân ngụy, làm cho cả hệ thống đồn bốt địch ở Y.1 và Y.4 phải rút chạy, vùng giải phóng của ta được mở rộng thêm...

   Ngô Minh Trị là một chiến sĩ sống trung thực, giản dị, chan hòa cùng đồng đội, luôn luôn được mọi người tin cậy thương yêu. Khi đồng chí hy sinh, cả đơn vị đều xót xa, thương tiếc.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Ngô Minh Trị được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
 
   Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3672



« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2012, 02:05:19 PM »
 

ANH HÙNG HỒ VĂN BÉ



    Hồ Văn Bé (tức Hồng Hải) sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ ngày 6 tháng 4 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng công binh đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, cha mẹ Hồ Văn Bé đều tham gia hoạt động cách mạng. Bố làm xã đội trưởng nhiều năm, năm 1949 bị giặc Pháp bắt giam 44 tháng liền, sau ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lại bị Mỹ - Diệm cầm tù 18 tháng nữa, mẹ làm giao liên, cũng bị địch bắt vào tù, tra tấn cho đến chết. Mang truyền thống gia đình cách mạng, lại được cán bộ giúp đỡ, Hồ Văn Bé đã sóm tham gia công tác, làm liên lạc., rải truyền đơn, canh gác bảo vệ cho cán bộ; lớn lên trở thành đội viên du kích rồi gia nhập bộ đội.

   Đồng chí đã tham gia 57 trận, đánh đổ 2 cầu sắt, phá sập và hỏng 9 cầu xi măng, phá hủv 5 xe, diệt 29 tên địch, trong đó có 8 sĩ quan Mỹ, 1 trung tá tỉnh trưởng Mỹ Tho, tỉnh đoàn phó bảo an và 6 sĩ quan khác, làm bị thương 19 tên.

   Trong chiến đấu, đồng chí đã tỏ ra rất dũng cảm. Khi đánh tập kích thường đi đầu tổ mũi nhọn; khi phá cầu, đánh xe dù địch canh phòng cẩn mật đến đâu, đồng chí cũng kiên quyết tìm cách lọt vào được, đánh xong còn bĩnh tĩnh ở lại xem xét kết quả để rút kinh nghiệm.

   Trong trận Trung Hà - Chợ Gạo (1962), trung đội của đồng chí bị 700 quân lính thủv đánh bộ bao vây. Đồng chí tự nguyện xin cho tiểu đội của mình ở ỉại chiến đấu kìm chân địch, yểm hộ cho 2 tiểu đội bạn rút trước. Địch tiến công nhiều lần, nhưng đều bị đánh bật trở ra, Trời tối dần, chúng buộc phải co cụm lại, song tiểu đội đồng chí cũng thương vong gần hết, chỉ còn lại Hồ Văn Bé và một chiến sĩ nữa đã bị thương. Dù rất mệt và đói đồng chí cố gắng cõng bạn vượt vòng vây, đưa về gửi một gia đình cơ sở nhờ chăm sóc, rồi dẫn anh em du kích trở lại tìm kiếm rất cẩn thận, không để sót một tử sĩ nào trên trận địa.

   Trong trận đánh cầu Trịnh Hà, tháng 11 năm 1963. Hồ Văn Bé vào ra 6 đêm liền để nghiên cứu cách đánh. Cách cầu 120 mét có một cơ quan tham mưu Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụv đóng. Chúng tuần tra, canh gác suốt đêm, bố trí hỏa lực dày đặc xung quanh để bảo vệ cầu. Xét thấy đánh đêm không ổn, đổng chí quyết định đánh ban ngày. Lợi dụng lúc địch sơ hở giữa hai phiên đổi gác, Hồ Văn Bé đã táo bạo cải trang, đưa mìn vào đặt và đánh sập cầu.

   Cuối tháng 3 năm 1964, chấp hành chỉ thị của cấp trên phải tìm mọi cách diệt bằng được bọn chỉ huy tiểu khu đầu sỏ của địch. Hồ Văn Bé đã theo dõi, điều tra nhiều lần dọc lộ Hòa Tịnh cho tới khi nắm được quy luật của bọn sĩ quan Mỹ, ngụy qua lại lộ này. Ngày 8 tháng 4 năm 1964, Hồ Văn Bé cải trang thành người bắt ếch trà trộn với dân đi làm đồng, chuẩn bị đánh địch. Bỏ qua những xe to chở lính và trang bị, đồng chí kiên trì chờ tới 4 giờ chiều nhằm đúng lúc 2 chiếc xe con (thường chở bọn sĩ quan cao cấp) chạy tới, đồng chí mới nổ mìn, chiếc đi đầu bị đứt làm đôi; 2 tên cố vấn Mỷ, 3 tên sĩ quan ngụy và tên phiên dịch tan xác; chiếc đi sau bị hất quay ngang rồi lao đầu xuống ruộng, thêm 3 tên nữa bỏ mạng.

   Ngày 24 tháng 4 năm 1964, biết tin tên trung tá tỉnh trưởng Trần Hoàng Quân sẽ qua lộ Phú Kiết, Hồ Văn Bé liền đặt mìn mai phục. Bỏ qua các xe cảnh sát, xe chở lính bảo vệ, đồng chí chờ khi chiếc xe con xuất hiện đúng vị trí đặt mìn mới điểm hỏa. Trái mìn nổ đã hất tung chiếc xe con xuống rạch: cả 2 tên tỉnh trưởng vả phó tỉnh trưởng cùng với 2 cố vấn Mỹ cao cấp, cả tên quận trưởng với tên lính bảo vệ đi cùng đều chết ngay tại chỗ.

   Hồ Văn Bé luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, chấp hành nghiêm mọi chì thị, mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết, thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội, nhất là trong những lúc nguy hiểm khó khăn, được anh em tin yêu, mến phục.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, nhiều lần được cấp trên cấp giấy khen, bằng khen.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Hồ Văn Bé được Uy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG LÊ QUANG CÔNG


    Lê Quang Công (tức Thanh Long) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ ngày 8 tháng 7 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 2 bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trước khi vào quân đội, Lê Quang Công là du kích của xã, đã tham gia một số trận đánh, diệt 2 cảnh sát, 18 lần phá thế kìm kẹp của địch, bắt và cảnh cáo 40 tề ngụy, nhiều lần chiến đấu bảo vệ cán bộ qua lộ an toàn.

   Gần 5 năm ở quân đội, đồng chí đã dự 62 trận đánh (không kể các trận nhỏ, lẻ), tự tay diệt 26 tên địch (trong đó có 1 cố vấn Mỹ), làm bị thương 35 tên, bắt sống 12 tên, thu 27 súng, 60 lựu đạn, góp phần cùng đơn vị bán rơi 1 máy bay, bân bị thương 5 chiếc khác và bắn cháy 2 xe lội nước.

   Lê Quang Công là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần kiên quyết xung phong, liên tục tiến công quân địch, khi bố trí chặn địch thì ngoan cường, dũng cảm giữ vững trận địa, tìm thế phản công, phát hiện địch sơ hở là nắm thời cơ nhanh chóng phản xung phong tiêu diệt địch, giành thẳng lợi.

  Tháng 11 năm 1963, nắm thời cơ địch vừa đảo chính lật đổ nhau, còn đang hoang mang, đơn vị đồng chí phối hợp với đơn vị bạn đánh địch suốt 6 ngày đêm liền, diệt 10 đồn bốt ở địa phương, phá 6 ấp chiến lược. Sau đợt này, đồng chí lại đưa đơn vị xuống hoạt động ở vùng Chợ Gạo, chiến đấu liên tục 33 ngày đêm nữa.

   Trong trận đánh đồn Tân Thành, đội xung kích một gặp khó khăn không lên được, đồng chí lúc đó đang ở phía sau, nhận được lệnh lên chỉ huy, đã kiên quyết tổ chức xung phong, dẫn đầu đơn vị xông vào cứ điểm, tiêu diệt gọn đồn địch. Trong trận này, đồng chí bị tới 13 vết thương trên lưng, nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị cho tới khi hoàn thành được nhiệm vụ.

   Trong trận tập kích bốt Cầu Cả Quới, nhằm mở rộng thắng lợi của đợt hoạt động, đồng chí được phân công chỉ huy tổ xung kích, đánh trong điều kiện ta chưa trinh sát nắm địch. Vừa vào tới hàng rào thứ hai thì bị lộ, địch bắn ra dữ dội, Ngô Quang Công xử trí rất nhanh, bật dậy ném liền 2 quả lựu đạn vào lô cốt đầu cầu, rồi chỉ huy tổ xông lên đánh chiếm, sau đó phát triển thẳng vào trung tâm. Do bị đánh nhanh, mạnh, địch không kịp đối phó nên trận đánh đã dứt điểm nhanh, gọn.

   Trong trận chống càn Mỹ Tịnh An (tháng 7 năm 1963), địch dùng 2 máy bay tiêm kích, 1 máy bay lên thẳng vủ trang, 3 xe bọc thép và 15 xe lội nước bẳn phá dử dội vào trận địa ta, rồi 3 tiểu đoàn bộ binh dàn hàng ngang tiến vào. Ngô Quang Công đã bình tĩnh chỉ huy phân đội, phối hợp với đơn vị bạn chiến đấu, ngăn chặn địch rất quyết liệt. Sau 2 giờ, địch bị đánh bật trở ra, phải củng cố và gọi máy bay đến oanh tạc, sau đó 9 máy bay lên thẳng tới đổ thêm 1 tiểu đoàn, mở tiếp 2 đợt tiến công nửa. Ngô Quang Công vẫn bình tĩnh quan sát và chỉ huy phân đội chiến đấu, bắn rơi thêm 1 máy bay địch, giữ vững trận địa. Đến tối, được lệnh rút, đồng chí đã tổ chức chỉ huy đơn vị vừa đánh địch, vừa đưa toàn bộ thương binh, tử sĩ ra ngoài. Tính chung ngày hôm đó, đơn vị đồng chí đã đánh lui 4 đợt xung phong của 4 tiểu đoàn địch, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay.

   Trong trận chống càn Qướn Long ngày 20 tháng 7 năm 1963, địch huy động 8 tiểu đoàn, 27 tàu chiến, 42 xe lội nước, 23 máy bay, 8 khẩu pháo 105 và 155 mi-li-mét, ồ ạt bắn phá và tổ chức liên tiếp 4 đợt xung phong hòng áp đảo quân ta. Ròng rã suốt 1 ngày, chúng không sao đánh chiếm được Qướn Long. Đơn vị Lê Quang Công đã giữ vững trận địa đến tối và rút ra ngoài an toàn theo mệnh lệnh. Trong trận này, địch chết và bị thương 380 tên (có một số Mỹ), mất 1 máy bay HU.1-A và 1 xe lội nước.

   Lê Quang Công luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, ngoài nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí còn chú ý xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

  Đồng chí đã được thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 giấy khen, bằng khen và được bầu là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Lê Quang Công được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
 
   Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3672



« Trả lời #5 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2012, 02:09:21 PM »
 

ANH HÙNG TRẦN DƯỠNG


  Trần Dưỡng (tức Trần Phát), sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 12 tháng 9 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chiến sĩ trinh sát đơn vị V.10 của tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình cách mạng, mẹ bị giặc Pháp bắn chết, cha là cán bộ xã, bị Mỹ - Diệm bắt và thủ tiêu trong vụ Vĩnh Trinh năm 1955, Trần Dưỡng ôm mối thù sâu với bọn đế quốc và bè lũ tay sai, đến năm 18 tuổi, đồng chí rủ 4 thanh niên cùng chí hướng đi tìm cách mạng. Nhập ngũ chưa đầy 5 năm, đồng chí đã đánh 29 trận, giết và làm bị thương 59 tên địch, bắt sống 26 tên, thu 19 súng các loại.

   Là một chiến sĩ trinh sát, Trần Dưỡng luôn luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí, táo bạo, lúc chuẩn bị chiến trường bao giờ cũng tìm mọi cách điều tra nắm chắc tình hình địch và địa hình phục vụ đắc lực cho các trận đánh. Khi chiến đấu, đồng chí thường phụ trách tổ dao nhọn thọc sâu của đơn vị. Trường hợp hãn hữu bị địch vây, đồng chí dũng cảm đánh gần, đánh thọc sườn quân địch, mở đường máu phá vây.

   Trong trận đanh vào trụ sở bảo an, nơi ngụy quyền Sài Gòn tổ chức cuộc bầu cử tổng thống của chúng năm 1961. Mặc dù kẻ địch đã tổ chức canh phòng cẩn mật, Trần Dưỡng vẫn chỉ huy một tổ bí mật, táo bạo, ém vào phục trong một cái tủ lớn ở phòng họp. Khi chúng khởi sự, bất ngờ tổ đồng chí đạp tung cánh tủ lao ra chiến đấu, diệt nhiều địch, phá vỡ cuộc bầu cử. Đồng bào có mặt hôm đó rất phấn khởi và khâm phục.

   Tháng 6 năm 1962, trên đường đi lấy gạo, đơn vị sa vào ổ phục kích của 1 đại đội bảo an và 3 trung đội thuộc tổng đoàn biệt kích ngụy. Tổ đồng chí đi trước, ngav ph
Nhắn tin cho tác giả
Phạm Huy Tâm @ 22:53 26/04/2017
Số lượt xem: 332
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến